Sự nghiệp Thân tộc trong lịch sử Việt Nam
Họ Thân là một họ lớn lâu đời được tách ra từ họ Giáp từ lúc nhà Lý mới thành lập. Lý Công Uẩn đã gả công chúa cho Giáp Thừa Quý, người dân tộc Tày, thủ lĩnh Lạng Châu, cai quản vùng đất rộng lớn từ Bắc Giang đến Lạng Sơn[1]; họ Thân được ra đời từ đó. Sáng kiến này của người khai nghiệp vương triều Lý đã mở đầu cho giải pháp trị nước, bảo vệ an ninh biên giới phía Bắc, củng cố chế độ quân chủ trung ương tập quyền được các vua nhà Lý, nhà Trần về sau học tập và pháp huy.

Con trai của Thân Thừa Quý là Thân Thiệu Thái, năm 1029 lấy công chúa Bình Dương, con của vua Lý Thái Tông[2]. Năm 1066, con trai của Thân Thiệu Thái là Thân Cảnh Phúc [3] lấy công chúa Thiên Thành con của vua Lý Thánh Tông[4]. Sự nghiệp họ̣ Thân hiển vinh bắt đầu từ đó khi triều đình nhà Lý giao giữ trọng trách trấn giữ biên cương phía Bắc. Họ Thân từ đó đến nay sau gần một ngàn năm đã xuất hiện trong lịch sử dân tộc nhiều nhân vật xuất chúng đại diện cho mỗi thời kỳ trong các lãnh vực đấu tranh giữ vững biên giới, bảo vệ nền độc lập dân tộc, khai phá, mở nước về phía Nam, phát triển kinh tế, văn hoá dân tộc giáo dục và khoa bảng…
1. Trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ biên cương và nền độc lập dân tộc
Năm 1028, trước sự xâm phạm của nhà Tống ở vùng biên giới kéo dài, để giải quyết bất hoà giữa hai nước vua Lý Thái Tổ cử phò mã Thân Thừa Quý đem quân đánh sang châu Thất Nguyên của đất Tống, giết tướng Lý Tự. Thân Thừa Quý bắt nhiều dân Tống đem về nước. Quan coi Ung Châu phải xin giải hoà, vua Lý Thái Tổ mới chấp thuận[5].
Năm 1059, nhân có dân ta ở Lạng châu chạy qua châu Lâm Bình, bị quan quân nhà Tống bắt giữ. Vua Lý Thánh Tông yêu cầu trao trả lại nhưng nhà Tống không chịu. Phò mã Thân Thiệu Thái nhận lệnh dẫn quân từ Động Giáp đánh sang châu Tây Bình, nhưng bị̣ quân Tống chặn đánh. Nhân đó nhà Tống cử tướng Tống Sĩ Nghiêu đem quân đánh vào Động Giáp. Bị Thân Thiệu Thái cho quân chặn đánh, địch bị thiệt hại nặng. Năm 1060, Thân Thiệu Thái đem quân qua đất Tống đánh, giết chết viên Đô giám tuần kiểm Tống Sĩ Nghiêu và nhiều tướng khác. Vua Tống huy động quân đến châu Ung họp bàn sang đánh nước ta, Thân Thiệu Thái chủ động đem quân đánh vào trại Vĩnh Bình làm chấn động cả Ung châu. Thân Thiệu Thái cho quân đánh bắt được tên tướng chỉ huy là Dương Bảo Tài (Việt sử lược chép là Dương Lữ Tài) và nhiều dân đinh cùng vô số gia súc. Sau thất bại này, vua Tống cách chức quan coi thành Quế châu là Tiêu Cố và quan coi thành Ung châu là Tiêu Chú. Suốt cả năm 1060, Thân Thiệu Thái cho quân triệt phá các căn cứ của địch trên đất Tống; vua Tống cử Thị lang Bộ Lại là Dư Tình mang quân xuống đánh nhưng thấy thế lực quân của Thân Thiệu Thái rất mạnh nên phải xin giảng hòa. Chấp nhận sự cầu hòa của nhà Tống nhưng vua Lý cương quyết không trả Dương Bảo Tài lại cho chúng [6].
Trong cuộc kháng chiến chống Tống dưới trướng Lý Thường Kiệt ( 1075-1077), Phò mã Thân Cảnh Phúc đã tham gia tích cực và lập được nhiều chiến công. Thân Cảnh Phúc cùng các tướng Lưu Kỷ, Tông Đản, Hoàng Kim Mãn, Vi Thủ An cho quân bộ tiến sang đất Tống uy hiếp Hoành Sơn, Thái Bình, Vĩnh Bình, Cổ Vạn, Thiên Long để triệt hạ các căn cứ quân sự tiền phương cuả địch và cũng là kế nghi binh nhằm thu hút sự chú ý cuả địch để cho quân thủy của Lý Thường Kiệt tấn công châu Khâm, châu Liêm và châu Ung[7].
Cuối năm 1076, đại quân Tống xâm lược nước ta, Thân Cảnh Phúc đóng quân ở Động Giáp để khống chế hai ải hiểm là Quyết Lý và Giáp Khẩu. Trên đường phục binh từ Lạng Sơn về kinh, Thân Cảnh Phúc giao cho các thủ lĩnh người dân tộc và các thổ binh trực tiếp chỉ huy; bên trái có Sầm Khánh Tân, Nùng Thuận Linh và Hoàng Kim Mãn giữ Môn Châu và đường qua Bình Gia đến Phú Lương [8]; bên phải có Vi Thủ An giữ châu Tô Mậu và đường từ Tư Lăng đến Lạng Châu[9].
Quách Qùy chỉ huy cho quân Tống ào ạt đánh vỡ các phòng tuyến ở ải Quyết Lý và Giáp Khẩu mở đường tấn công nhưng bị phục binh cuả Thân Cảnh phúc đánh thiệt hai nặng trước khi chúng tiến xuống sông Cầu.
Biết Thân Cảnh Phúc là một tướng giỏi cầm cường binh, tướng giặc là Triệu Tiết bàn với Quách Qùy là tìm cách dụ hàng nhưng Quách Qùy thấy không có hiệu quả nên không thực hiện. Khi quân Tống bị chặn đánh ở phòng tuyến sông Cầu, Thân Cảnh Phúc cho quân mai phục đánh sau lưng làm tiêu hao nhiều sinh lực của địch[10].
Dưới thời Trần, do kỳ thị với dòng họ nhiều đời làm phò mã và có nhiều huân công với triều Lý nên những người họ Thân không được trọng dụng, qua thời Lê, thời Nguyễn mới xuất hiện nhiều nhân tài.
Năm 1858, khi quân Pháp tấn công vào Đà Nẵng, Bố chính tỉnh Quảng Nam lúc đó là Thân Văn Nhiếp hợp lực với Tổng đốc Nam Ngãi là Trần Hoằng đánh dẹp và chống giữ[11]. Năm 1861, quân Pháp đánh Biên Hòa, Thân Văn Nhiếp được sung chức Thị lang Bộ Binh đem quân vào đánh. Thắng trận, ông được vua Tự Đức ban thưởng kỷ lục.
Trong phong trào Cần Vương chống Pháp có Phò mã Thân Văn Di, Đô uý Thân Đức Luận theo Tôn Thất Thuyết phò vua Hàm Nghi. Ở miền Bắc có Thân Văn Phức lãnh đạo nghĩa quân trong cuộc khởi nghĩa Cần vương chống Pháp ở Yên Thế (1888-1893) trước khi giao nhiệm vụ tối cao cho thủ lĩnh Hoàng Hoa Thám.
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ ở Thừa Thiên Huế có Thân Trọng Một, Đại tá, Anh hùng lực lượng vũ trang đã dũng cảm, mưu trí "tay không cướp súng giặc, để đánh giặc" đã làm cho địch kinh hoàng, khiếp sợ và được nhân dân ngưỡng mộ.
2. Công cuộc khai khẩn, mở nước về phía Nam
Lịch sử dân tộc cũng từ thời Lý bắt đầu công cuộc thực hiện mở nước về phía Nam. Đó là sự kiện năm 1069 vua Lý Thánh Tông thân chinh đánh vào kinh đô Chămpa bắt vua Chăm là Chế Củ. Chế Củ phải nhường đất 3 châu Bố Chánh, Địa Lý, Ma Linh nay là đất của tỉnh Quảng Bình và 2 huyện Vĩnh Linh và Gio Linh của tỉnh Quảng Trị để được trả tự do. Năm 1306, nhà Trần mở đất lập châu Thuận và châu Hoá, nay là đất của tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Thành phố Đà Nẵng và Bắc Quảng Nam. Năm 1402, nhà Hồ mở đất các châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa nay là đất của tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi. Năm 1471, Lê Thánh Tông mở đất đến tỉnh Bình Định, Phú Yên.
Theo dòng lịch sử mở nước này nhiều nhân vật họ Thân đã có mặt khá sớm trong các thế hệ tiền bối lập nên đất Thuận - Quảng. Vào các thế kỷ XIV- XV tài liệu gia phả họ Thân cho biết vị Thủy tổ ở làng An Lỗ (xã Phong Hiền, huyện Phong Điền) có vị tôn xưng là Thân Đại Lang cùng các vị họ Đỗ, họ Nguyễn sau khi đánh thắng quân Chăm đã ở lại lập nên làng An Lỗ. Rất có khả năng An Lỗ là một làng được thành lập sớm vào thời Trần thế kỷ XIV sau sự kiện năm 1306 khi quân Chăm trở lại đánh Hoá châu.
Trong đoàn quân của vua Lê Thánh Tông đánh vào kinh đô Chămpa năm 1471 có tướng Triệu cơ Thân Phước Cẩm và tướng Thân Văn Ngôn. Sau chiến thắng này, Thân Phước Cẩm được vua Lê giao trấn nhậm đất Quảng Nam. Ông là người lập làng Câu Nhi (xã Điện An, huyện Điện Bàn) và là người mở đầu cho dòng họ Thân ở Quảng Nam - Đà Nẵng. Tướng Thân Văn Ngôn cũng được giao trấn thủ thành Đồ Bàn và là người lập nên dòng họ Thân ở tỉnh Bình Định[12].
3. Sự nghiệp phát triển văn hoá dân tộc
Thân Nhân Trung (1418-1499), người làng Yên Ninh, xã Hoàng Ninh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đại diện cho dòng văn hoá dân tộc thời Lê mà đỉnh cao là thời Lê Thánh Tông. Ông đỗ Tiến sĩ năm 1469, là người khai khoa tiến sĩ của dòng họ Thân Việt Nam. Thân Nhân Trung làm Thượng thư Bộ Lại, Đông các Đại học sĩ, Nhập nội phụ chính kiêm Quốc tử giám tế tửu. Ông là Phó soái trong hội Tao đàn Nhị thập bát tú do Vua Lê Thánh Tông đứng đầu lập năm 1494. Năm 1484, ông được vua Lê Thánh Tông giao soạn văn bia tiến sĩ Quốc tử giám ở tấm bia đầu tiên của khoa thi năm 1442. Bản văn đó có giá trị như một bản tuyên ngôn về giáo dục, đào tạo và sử dụng nhân tài được nhiều thời vận dụng và người đời ca tụng:
"Hiền tài là nguyên khí của Quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống thấp. Bởi vậy, các thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ có mối quan hệ thật quan trọng đối với sự phát triễn của đất nước".
Thân Nhân Trung là người đầu tiên đặt vấn đề hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Đó là một luận điểm giáo dục mang tính chiến lược, tổng kết ở tầm cao của văn hoá dân tộc.. Ông còn là người khai khoa tiến sĩ của làng Yên Ninh, được mệnh danh là làng Tiến sĩ. Thời quân chủ làng Yên Ninh có 10 Tiến sĩ thì gia đình ông có đến 4 vị là ông và con cháu của ông: Thân Nhân Vũ (con) đỗ tiến sĩ khoa thi năm 1481, cháu đích tôn là Thân Cảnh Vân (con của Thân Nhân Tín), tiến sĩ năm 1487 và Thân Nhân Tín (con) đỗ năm 1490.
Vào thế kỷ XVII ở Đàng Ngoài, họ Thân ở làng Phương Độ, tổng Đa Mai, huyện Yên Dũng (nay là xã Song Mai, thị xã Bắc Giang) có nhiều người đỗ Tiến sĩ và làm ngoại giao giỏi:
- Thân Khuê (1593-1638), đỗ Tiến sĩ năm 1628, Phó sứ đi Trung Quốc năm 1637.
- Thân Toàn ( 1621- ? ) con của Thân Khuê, đỗ Tiến sĩ năm 1652, đi sứ Trung Quốc năm 1682.
- Thân Hành (1656- ? ) con của Thân Toàn, đỗ Tiến sĩ năm 1669, đi sứ Trung Quốc .
Vào thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, dòng họ Thân ở Thừa Thiên Huế làm vẻ vang cho Thân tộc với nhiều nhà văn hoá - khoa bảng danh tiếng một thời, xin được liệt kê như sau:

STT
Họ và Tên/Năm sống
Năm đỗ
Chức vụ
Phẩm/hàm
1
THÂN VĂN QUYỀN
(1771- 1836)
 
Thị lang,
Bố chánh
Chánh Tam phẩm
2
THÂN VĂN DUY
(1796-1828)
CN:1819
Hiệp trấn
Chánh nhị
phẩm
3
THÂN VĂN TUYẾN
(1798-1854)
CN: 1821
Không làm quan, đào tạo 4 tiến sĩ
 
4
THÂN VĂN NHIẾP
( 1804-1872)
CN: 1841
Tổng đốc
Chánh nhị
phẩm
5
THÂN TRỌNG TIẾT
(1828-1858)
TS:1851
Thị độc học sĩ
Chánh tứ
phẩm
6
THÂN VĂN DI
(1825-1885)
 
Phò mã đô uý
Tòng tam
phẩm
7
THÂN TRỌNG HUỀ
(1869-1925)
TS:1895
Học ở Pháp
Thượng thư
Chánh nhất
phẩm
8
THÂN TRỌNG NGẬT
(1877-1946)
TS:1903)
Thượng thư
Chánh nhị
phẩm
9
THÂN TRỌNG THOAN
(1869-1921)
CN: 1903
Tri phủ
?
10
THÂN TRỌNG CẢNH
(1860-1924)
CN: 1887
Đốc học
 
11
THÂN TRỌNG ĐIỀM (?-1907)
CN: 1878
Hồng lô tự khanh
Chánh tứ
12
THÂNTRỌNGKHOÁI (1917-?)
CN: 1888
Hồng lô tự khanh
Chánh tứ
13
THÂN TRỌNG LẨM (?-?)
CN: 1888
Thị độc hàn lâm
Chánh tứ
---
--------------
 
 
 

Họ Thân là một trong các vọng tộc của xứ Huế nên trước đây có lời truyền:
Nhất Thân, nhì Đặng, tam Hà
Thứ tư mới đến con nhà Nguyễn Khoa…
4. Sự nghiệp phát triển kinh tế, mở mang đô thị:
Vào thế kỷ XVII, lịch sử Việt Nam xuất hiện một nhân vật khá đặc biệt là Thân Công Tài (1620-1683). Thân Công Tài người thôn Như Thiết, xã Hồng Thái, Huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Năm 1672, ông được giao làm Đề đốc quản các xứ Kinh Bắc, Thái Nguyên, Lạng Sơn và được phong tước Hán Quận Công. Năm 1683, ông được phong chức Đô đốc đồng tri.
Trong thời gian Thân Công Tài trấn nhậm vùng Lạng Sơn, ông đã dốc sức phát triển kinh tế thương nghiệp, mở rộng quan hệ buôn bán với Trung Quốc và lập nên phố Kỳ Lừa. Năm ông mất- 1783, nhân dân hai nước nhớ ơn ông đã lập bia Tôn sư phụ và lập đền Tả phủ để thờ ông ngay ở trung tâm buôn bán của phố Kỳ Lừa; nay ở số 159 đường Bắc Sơn, phường Hoàng Văn Thụ, thành phố Lạng Sơn.
Thân Công Tài được nhân dân tôn làm sư phụ. Cũng nhờ nội dung tấm bia này mà chúng ta biết được ông đã:
"Dốc lòng phủ dụ thương yêu dân, quan cũng như dân khắp vùng vui sướng tắm ân đức Ngài, thương khách mọ̣i phương đều muốn xin buôn bán và có tò khai xin tôn Ngài làm Sư phụ…dựng miếu thờ cúng quanh năm, phụng thờ ngài muôn đời, nêu cao phong tục tốt đẹp tới trăm ngàn năm vậy…" ( Văn bia mặt A).
" Đô đốc phủ Đô đốc Đồng tri Hán Quận công Thân Công Tài quán tại xã Như Thiết, huyện Yên Dũng, phủ Lạng Giang, nay thấy quân dân phụ đạo phiên tướng các châu xứ Lạng Sơn, thuộc Bắc đạo và 13 phường của Trung quốc và 7 phường của bản quốc muốn dựng miếu phía Tây để thờ phụng, đền ơn đáp nghĩa sâu nặng, nhân số ruộng đất mới mua để lại làm ruộng hương hỏa cày cấy, quanh năm thờ phụng nghi lễ…" (Văn bia mặt B).
Ở mặt C của tấm bai có khắc dòng chữ "Lưỡng quốc khách nhân, Thiên triều thập tam tỉnh thương khách". Kê tên…
Trong đền có câu đối ca ngợi công đức Thân Công Tài:
"Thương trường khai thị Hán Quận Công
Lịch sử lưu danh truyền hậu thế”.
Ngày 28 tháng 3 năm 2004, khi chúng tôi tham gia đoàn khảo sát khu di tích Thân Công Tài ở Lạng Sơn, ông Đỗ Tiến Doanh; thủ từ đền Tả Phủ cho biết - Hiện nay ở vùng Nam Trung Quốc các nơi có phố buôn bán nhiều nơi lập bia có chữ THÂN để thờ Thân Công Tài.
Đền thờ Thân Công Tài được công nhận di tích Quốc gia (Quyết định số 57 VH/QĐ ngày 18/1/1983) và lễ hội tại đền thờ Thân Công Tài được tổ chức từ ngày 22-27 tháng 1 Âm lịch hàng năm là một lễ hội lớn của tỉnh Lạng Sơn từ xưa đến nay. Điều đó chứng thực Thân Công Tài có một vị trí đặc biệt trong lịch sử và trong lòng dân. Thân Công Tài xứng đáng là ông Tổ của ngành Ngoại thương Việt Nam. Ông cũng là người khai sinh ra phố Kỳ Lừa, một đô thị sầm uất ở vùng cao biên giới Việt - Trung làm cơ sở và ý tưởng cho vua Quang Trung hơn một thế kỷ sau đã ban hành chính sách đối ngoại mậu dịch giữa nước ta và Trung Quốc khi nhà vua đề nghị cho mở cửa phố Đồng Đăng và Kỳ Lừa cho thương nhân Trung Quốc vào buôn bán và cho thương nhân người Việt lập thương điếm ở Nam Ninh (Trung Quốc).
Nhìn lại sau gần một ngàn năm ra đời và phát triển của họ Thân. Họ Thân đã từng giữ vị trí quan trọng trong lịch sử dân tộc dưới thời Lý, Lê, Nguyễn và cả thời đại ngày nay trên các lãnh vực trị nước, bảo vệ biên cương, khai phá mở mang lãnh thổ, góp phần đấu tranh giữ vững nền độc lập dân tộc, phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục, ngoại giao…
Họ Thân tự hào là có Thân Thừa Quý; vị Phò mã đầu tiên của nhà Lý trong chính sách thực hiện khối đoàn kết dân tộc, bảo vệ an ninh và lãnh thổ phía Bắc. Họ Thân có Thân Nhân Trung người khai khoa tiến sĩ mở đầu cho dòng họ Thân khoa bảng trong lịch sử Việt Nam, người đề xuất luận điểm chiến lược về nhân tài "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia". Họ Thân có Thân Công Tài người mở mang kinh tế dân sinh, phát triển quan hệ thông thương hai nước Việt - Trung trong thế kỷ XVII, là người có công lập phố Kỳ Lừa, một tầm nhìn chiến lược về kinh tế ở vùng Đông - Bắc tổ quốc, mang lại lợi ích muôn đời được nhân dân hai nước Việt - Trung ở vùng biên giới tôn làm Sư - Phụ. Ông xứng đáng là ông Tổ của ngành ngoại thương Việt Nam. Họ Thân có Thân (Đại Lang), Thân Phước Cẩm, Thân Văn Ngôn có mặt sớm trên vùng đất Thuận - Quảng mở đầu cho dòng họ Thân khai phá mở đất lập nghiệp ở các tỉnh phía Nam. Họ Thân có Thân Văn Nhiếp, vị Bố chánh đất Quảng Nam góp phần cùng đội quân triều đình Huế đánh bại quân Pháp trận đầu tiên khi chúng tấn công vào Đà Nẵng năm 1858.
Trong các thế hệ họ Thân hôm nay, có nhiều người mang trong mình dòng máu văn hoá và khoa bảng của Thân Nhân Trung, kinh tế và phát triển đô thị của Thân Công Tài, đoàn kết dân tộc, đấu tranh giữ nước, tận tuỵ thương dân của Thân Thừa Quý, Thân Cảnh Phúc, Thân Công Tài, Thân Văn Nhiếp…Tất cả những người họ Thân được lưu danh trong sử sách và trong lòng dân đã truyền đi một ngọn lửa ngàn năm - ngọn lửa đoàn kết, yêu nước, thương dân, canh tân, phát triển kinh tế và văn dân tộc.
Lịch sử Việt Nam có những dòng họ làm vua có nhiều cống hiến được sử sách thời phong kiến biên chép tỉ mỉ, nhưng cũng có nhiều dòng họ cũng có nhiều công lao to lớn đóng góp cho sự phồn vinh của đất nước cả ngàn năm qua, nhưng không được tìm hiểu một cách có hệ thống; họ Thân là một trong những dòng họ như thế. Việc nghiên cứu họ Thân trong lịch sử dân tộc và các họ khác sẽ làm phong phú thêm cho lịch sử, là niềm tự hào của dòng họ và của cả dân tộc, là một hoạt động sử học có nhiều ý nghĩa và cũng nhằm khắc phục quan điểm sử học của thời quân chủ đã qua.

PGS.TS. Đỗ Bang
Chủ tịch Hội khoa học lịch sử Thừa Thiên Huế
Đại học Khoa học Huế
 

------------------------------------------------------------------------
[1] Đất này là chỗ quan yếu. Nó chặn con đường lớn nhất từ châu Ung đến nước ta. Đối với trại Vĩnh Bình của nhà Tống có các đèo ải hiểm trở thuộc huyện Quang Lang che chở. Muốn qua huyện ấy phải qua hai ải rất hiểm: Ải Quyết Lý kề phía bắc Ôn châu ngày nay và ải Giáp khấu, tức Chi Lăng ở phía nam Ôn châu. Ải này có công dụng lớn trong cuộc chiến tranh với nhà Tống, Nguyên, Minh. Trong các châu ở biên giới thì Lạng châu là quan yếu hơn cả vì vừa gần với kinh kỳ, vừa năm trên đường bộ khi quân Tống qua đánh nước ta…(Hòang Xuân Hãn, Lý Thường Kiệt- Lịch sử ngoại giao và tông giáo triều Lý, Quân dội nhân dân, 2003, tr. 58, 66.
[2] Việt sử lược, bản dịch Nguyễn Gia Tường, NXB TP Hồ Chí Minh, 1993, tr.126. Đại Việt sử ký toàn thư, Tập I, KHXH, Hà Nội,1972, tr.207.
[3] Thân Cảnh Phúc tức Thân Đạo Nguyên có thần danh là Vũ Thành ,đền thờ chính là Đền Hả ( Bắc Giang) trong đền có tượng thờ Thân Cảnh Phúc.
[4] Việt sử lược, sdd, tr. 151.
[5] Hòang Xuân Hãn, sdd, 87, dẫn lại sách Tục tư trị thông giám trường biên, 106.
[6] Lý Thường Kiệt, sdd, tr.92-94.. Đại Việt sử ký toàn thư. Sdd, 231.
[7] Lý Thường Kiệt, sdd, tr. 130.
[8] Tức từ biên giới đến tận sông Cầu, nơi lập phòng tuyến để đánh địch .
[9] Lý Thường Kiệt, sdd, tr. 213.
[10] Lý Thường Kiệt, sdd, tr. 221, 228.
[11] Đại Nam thực lục chính biên, Tập XXVIII, KHXH, Hà Nội, 1973, tr.440.
[12] Thân Cưu, Lược sử tộc Thân ở tỉnh Quảng Nam và thành phố Đà Nẵng, bản viết tay.
 

Quay lại Trang chủ In ấn
» Họ Thân ở Huế (06-15-2010)
» Tổng kết Hội thảo họ Thân trong lịch sử Việt Nam (Huế, 28/11/2004) (06-15-2010)
» Hội thảo II: "Kỷ niệm lần thứ 200 sinh Thân Văn Nhiếp 1804-2004" (06-15-2010)
» Thân tộc với vùng đất Quảng Nam (06-15-2010)
» Những tên tuổi sáng danh họ Thân trong lịch trình tiến hóa Việt Nam (06-15-2010)
» Yếu tố gia phong trong gia đình Thân Trọng (06-15-2010)
» Hội thảo I: "Kỷ niệm 500 năm ngày mất của Thân Nhân Trung 1499-1999" (06-15-2010)
 
Thông báo nội bộ
CHƯƠNG TRÌNH KỶ NIỆM "1000 NĂM HỌ THÂN" TẠI BẮC GIANG
Nhân ngày giỗ tổ họ Thân hằng năm (29/10 â.l.), năm nay, 2010, tại Bắc Giang, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Giang, phối hợp UBND huyện Lục Ngạn và Hội đồng Thân tộc Việt Nam đứng ra tổ chức Lễ kỷ niệm “1000 năm họ Thân” tại tỉnh nhà. ... chi tiết
Thông báo số 3 (Tin mới)
Kỷ niệm “1000 năm họ Thân” tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội ... chi tiết
Lễ kỷ niệm
Kỷ niệm “1000 năm họ Thân” tại Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội ... chi tiết
Lễ kỷ niệm “1000 năm họ Thân”
... chi tiết
Hội đồng Thân tộc Hà Nội - 2010
... chi tiết
Liên hệ
Đóng góp / Phản hồi
Hội thảo dòng họ Thân
Hoạt động của dòng họ
Họ Thân với đất nước
Thông báo
Tổng truy cập: 361112
Đang xem: 1
 
 
 
 
 
 
 

© 2004 Họ Thân Việt Nam
Chủ nhiệm: Ông Thân Thêm
Điện thoại: +84 913425131 | Email: thanthem@gmail.com | thanthem@hothan.org
Website: www.hothan.org                                                                    Click vào đây để Quản trị nội dung (CMS)