Yếu tố gia phong trong gia đình Thân Trọng
Gia phong, cũng như môn phong, gia pháp, là phong khí truyền thống trong gia tộc, nhất là chỉ phong cách gia giáo, nó không những liên quan với sự hưng suy của gia tộc mà còn liên quan với phong khí xã hội. Quan hệ trực tiếp đến gia phong, chính là vai trò của người cha trong gia đình với quyền hạn và trách nhiệm tối ưu về phương cách giáo dục con cái.

Phần I


1. Đặt vấn đề:

Vấn đề bản sắc văn hóa luôn chịu nhiều tác động ngày càng mạnh mẽ, toàn diện của xu thế khu vực - toàn cầu hóa. Thế ứng xử của một cộng đồng người, trong một khu vực, trong bối cảnh đó, đồng thời, cũng tùy thuộc vào chính bản sắc văn hóa. Không phải ngẫu nhiên mà dấu ấn Pháp, Mỹ lại mờ nhạt ở Huế; Huế trở thành cái nôi của phong trào Phụ nữ Tân Văn, với Đạm Phương Nữ Sử cùng Nữ Công Học Hội v.v... đầu thế kỷ XX. Theo chúng tôi, thành trì và cũng là động lực cho tất cả những biểu hiện đó, ít nhiều, đều xuất phát từ vấn đề cốt lõi: GIA PHONG XỨ HUẾ.

Gia phong, cũng như môn phong, gia pháp, là phong khí truyền thống trong gia tộc, nhất là chỉ phong cách gia giáo, nó không những liên quan với sự hưng suy của gia tộc mà còn liên quan với phong khí xã hội. Quan hệ trực tiếp đến gia phong, chính là vai trò của người cha trong gia đình với quyền hạn và trách nhiệm tối ưu về phương cách giáo dục con cái.

Theo Hán tự cổ thì chữ Phụ ban đầu là tượng hình của chữ Phủ (búa), chỉ việc đàn ông trong thời kỳ đồ đá dùng rìu đá làm việc; sau mới thêm nghĩa chỉ chung hạng đàn ông tráng niên, rồi cuối cùng mới chuyên dùng để chỉ người cha. “Thuyết văn giải tự” giải thích chữ Phụ rằng: “Khuôn phép, bậc gia trưởng trông coi việc dạy dỗ, từ chữ Hựu thêm chữ Trượng”. Đó là nghĩa có sau, nghĩa cổ của chữ Hựu là tượng hình cánh tay, có ý nói cha là quy củ, tay phải cầm trượng, tuân theo một pháp độ nhất định, đang tiến hành dạy dỗ răn bảo con cái, tức đang thực thi gia giáo. Ý nghĩa của chữ Phụ nói rõ địa vị và uy quyền của người cha, mà điều đó chủ yếu thể hiện ở nghĩa vụ và quyền lực dạy dỗ con cái.

Tương tự thì chữ Giáo, bên phải gồm chữ Phốc (gõ khẽ, phát ra âm thanh, là hình trạng giơ tay gõ khẽ, lại giải thích là “Sở” hoặc “Phốc”, tức là roi vọt để dạy dỗ về sau) và bên trái là chữ Hiếu. Chữ Hiếu lại gồm chữ Hào (số vạch - dáng vẻ giao ước trịnh trọng) ở trên và vì học theo cha nên thêm chữ Tử (con) ở dưới, biểu thị con cái nhỏ tuổi bên dưới. Theo “Thuyết văn giải tự” giải thích thì “Người trên làm, người dưới học theo. Gồm chữ Phốc và chữ Hiếu” và cũng có thể thêm ý nghĩa sâu xa rằng “Người trên thi hành nên gồm chữ Phốc, người dưới học theo nên theo chữ Hiếu” [Diêm Ái Dân, 2001] [1].

Hiểu một cách đơn giản, gia phong là nếp nhà và nếp nhà mỗi nơi đều mang những dáng vẻ, chứa đựng những giá trị khác nhau. Nét đặc thù của gia phong xứ Huế xuất phát và gắn liền với vị thế của Huế trong lịch sử, khi lần lượt gánh vác trọng trách thủ phủ vùng miền rồi kinh đô cả nước thời Nguyễn, trở thành trung tâm chính trị - kinh tế - văn hoá của cả nước.

Xứ Đàng Trong cát cứ bắt đầu từ cơ duyên một dòng họ, và bộ tướng của họ Nguyễn vào Nam phần lớn cũng là những gia đình “Trung nghĩa quân” mà con cháu của họ sau này đã trở thành những thế gia vọng tộc trên đất Huế [2]. Nhà nước phong kiến Nguyễn trên nền tảng đạo đức luân lý Khổng Mạnh, đã rất chú trọng đến vấn đề phong hoá, xuất phát từ cơ sở gia tộc - làng xã. Trong bối cảnh giao lưu Đông - Tây mạnh mẽ, để bảo đảm an ninh quốc gia, nhà Nguyễn đã thực hiện chính sách đối ngoại cứng rắn; đồng thời, lại dựa theo khuôn thức mẫu mực của nhà Thanh, xây dựng thể chế quân chủ phong kiến Nho giáo tập quyền cực đoan, cứng nhắc nhất trong lịch sử Việt Nam. Nhà nước phong kiến đã nắm được trục chi phối GIA TỘC và định chế xã hội dư luận để quản lý thần dân - “trách cập gia trưởng” và với nguyên tắc này, hiệu quả phát huy luôn ở mức cao nhất [3]. Nhà nước khuyến khích, trọng thưởng những “Tứ - Ngũ đại đồng đường”, các bậc phụ lão cao niên, những tấm gương hiếu nghĩa, tiết liệt... Bản thân Nguyễn Phước tộc cũng là một đại gia đình nhưng là hoàng tộc, một dòng họ lớn, có Tôn Nhân Phủ điều hành mọi hoạt động nội bộ Hoàng gia, với những lệ định, điển chế cụ thể đến khắt khe, phức tạp.

Huế, thành trì cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam, thì tất yếu cũng phải là nơi sau cùng rời bỏ những giá trị truyền thống mang trong mình nó. Và cái biểu hiện sau cùng đó, trong thời hiện đại, đang đặt ra cho vấn đề gia phong xứ Huế yêu cầu cấp bách là phải giải quyết hài hoà, biện chứng mối quan hệ truyền thống và hiện đại, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hoá.

Xã hội phong kiến tồn tại trên nền tảng đạo lý Khổng giáo, thì vấn đề gia đình là cơ sở và tất yếu thuộc chế độ phụ quyền. Gia đình là nền tảng của xã hội và người đàn ông là chủ; trước tiên phải tề gia, làm tròn phận sự thừa tự và chỉ có người đàn ông chủ gia đình mới được quyền tham gia các công việc xã hội cũng như có vị thế xã hội. Đó chính là xuất phát điểm của các biểu hiện “trọng nam khinh nữ”, “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”... trong xã hội cổ truyền. Mục đích cao cả, sâu xa hôn nhân là “thừa ngã tôn sự” (nối dõi tông đường), các kinh sách Thánh hiền cũng thường nhấn mạnh: “Tam đại bất hiếu, vô hậu vi đại” [Đỗ Bang, Trần Đình Hằng, 1997].
Đề cập đến những vấn đề trên, chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng ở đất Kinh kỳ, ảnh hưởng cũng như lưu ảnh của tinh thần ấy, của những điển chế ấy, tất yếu phải trực tiếp nhất, rõ nét và trọn vẹn nhất đối với mỗi một người dân và cũng khó xa rời nhất trong đời sống của họ, cho đến cả sau này.

Hình ảnh rõ nét, điển hình của gia giáo xưa chính là cây roi trong tay người cha, thực hiện theo phương châm “thương cho roi cho vọt”. Thực ra, trong những đại gia đình Huế xưa, người đàn ông sau khi đã tham gia “trị quốc”, sẽ đảm đương công tác xã hội cũng như chức năng đối ngoại của gia đình, và nhường - trao hẳn vai trò tề gia cho vị “Nội tướng”: hình ảnh bà nội, bà mẹ xứ Huế, “con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”. Người cha trong bối cảnh đó, trở thành người giám sát tối cao, khắt khe, mọi hoạt động, cử chỉ của các thành viên trong gia đình, đặc biệt là đối với con cái.

Mọi hoạt động của gia đình, của các thế hệ con cháu đều được/bị chi phối, định hướng bởi trục trọng tâm chữ Hiếu xuyên suốt để phụng sự tổ tiên (được thờ tự trang trọng ở bàn thờ ngay gian giữa). Nếp nhà được khai sáng và bồi bổ qua các thế hệ tiền nhân, trở thành những tấm gương sáng cho cháu con hậu thế noi theo và tổ tiên cao nhất còn sống trong gia đình chính là ông bà, cha mẹ. Hiếu kính với tổ tiên là phải chăm lo phụng dưỡng tổ tiên thủa sinh thời, chu toàn mồ mả, giỗ chạp lúc quy tiên, anh em hòa thuận, dạy dỗ con cháu nên người trên con đường hoạn lộ, binh nghiệp, để làm rạng danh gia tộc.

Cũng như sự lưu truyền văn hóa, gia giáo cũng mang tính kế thừa. Sự hình thành gia phong tốt đẹp không phải là việc một sớm một chiều, mà phải thông qua nỗ lực nhiều đời giữ gìn truyền thống gia giáo tốt đẹp. Gia phong trong bối cảnh đó, lại là một loại gia giáo vô hình có thể dấy lên hiệu quả không dạy mà theo, lưu truyền tới đời sau. Gia giáo đặc biệt quyết định gia phong đặc biệt, gia phong đặc biệt lại quyết định phong khí khác nhau giữa các gia tộc. Có như vậy, xứ Huế mới có Nguyễn Phước tộc, những gia đình văn nhã, binh nghiệp vang danh như Nguyễn Hữu, Nguyễn Khoa; văn nhã phong lưu như gia đình Tuy Lý, hoạn lộ như gia đình Thân Trọng, Hà Thúc, nghệ thuật diễn xướng cổ như gia đình bà Chúa Nhất - mệ Bông, nghệ sỹ Trần Kích, La Cháu; và chỉ có Huế mới có những gia đình đầu thế kỷ XX có hẳn một tờ báo làm cơ quan ngôn luận của gia đình và cũng để rèn luyện, răn dạy con cháu (Sum Đoàn Nguyễn Hữu; Hương xưa Đặng Ngọc...); một gia đình soạn nên một bản “Khuyến hiếu ca”, một gia đình lại có văn bản quy định chế độ tang phục để thực hiện trong gia tộc .v.v... [Tư liệu điền dã của cán bộ Phân Viện Nghiên cứu Văn hoá Nghệ thuật tại Thành phố Huế].

Một đặc điểm quan trọng nữa, mục đích của gia giáo là bồi dưỡng năng lực thích ứng với xã hội của con em, tức là bồi dưỡng một con người sinh vật thành một con người xã hội. Chính vì vậy mà xã hội phong kiến luôn chú trọng thực hiện phương châm “tìm tôi trung ở nhà con hiếu” và triều đình thường xuyên ban hành, bổ sung những lệ định tôn vinh những tấm gương hiếu nghĩa, liệt nữ. Gia đình là một xã hội thu nhỏ, phải là người con hiếu mới có thể là một thành viên tốt cho xã hội. Trong xã hội thu nhỏ ấy, một thành viên không hoà mình, không thực sự hữu cơ thì chắc chắn khó có vai trò xã hội một cách thiết thực.

2. Tính hai mặt của giá trị.

2. 1. Tinh thần:

Người trên luôn là mẫu mực, là tấm gương sáng cho con cháu noi theo và đồng thời lại có tác động trở lại, quá trình giáo dục ở đây như đồng thời diễn ra giữa người trên kẻ dưới. Con cháu phải luôn kính trọng, ngưỡng mộ người trên và buộc người trên cũng phải thường xuyên trau mình cho xứng đáng với điều đó. Tuy nhiên, điều đáng bàn là trước một áp lực tinh thần như vậy, con cháu luôn cảm thấy nhỏ bé và cảm giác hoài cổ, hoài vọng trước ông cha, trước những hành trạng nổi danh của gia tiên. Quy luật “tre già măng mọc” ở đây không được xác định, mà tất cả vẫn chịu sự chi phối của phúc ấm tổ tông: “Con hơn cha là nhà có phúc”. Tất cả đã làm mất đi lòng tự tin của hậu thế, sự kính trọng luôn đi kèm bị động và họ luôn thấy mình nhỏ bé trước người trên, hạn chế sự khám phá, kích thích sự sáng tạo, năng động.

Nội dung gia giáo bao gồm dạy dỗ đạo đức luân lý, kỹ năng mưu sinh, trang bị tri thức văn hóa, răn dạy triết lý ứng xử. Giáo dục, nói theo ngôn ngữ hiện đại, là một quy trình khép kín bổ trợ hữu cơ giữa gia đình - nhà trường và xã hội. Trong xã hội cổ truyền, gia giáo chiếm vai trò chủ đạo một khi các yếu tố khác còn nhiều hạn hẹp - đặc biệt là trong giai đoạn định hình nhân cách của trẻ. Với nội dung nặng về đạo đức luân lý, gia giáo đã góp phần tích cực làm cho con người nhân bản hơn, ứng xử “hoà” hơn và làm quan là đích cao nhất trên con đường hoạn lộ “một người làm quan cả họ được nhờ”.

Với tinh thần đó, gia giáo Huế bị chi phối mạnh mẽ bởi một hệ chuẩn mực đạo đức luân lý thấm nhuần tư tưởng Nho giáo, với “Tam cương”, “ngũ thường”, “Tam tòng”, “Tứ đức”... Với những giá trị mặc định như vậy, cái “nhẫn” của Phật giáo và Nho giáo lại càng củng cố thêm cho sự bền vững của lòng người, bởi đó là giá trị chuẩn mực. Chính nhờ vậy mà suốt một thời kỳ dài bị Pháp bảo hộ, rồi ảnh hưởng thực dân mới của Mỹ..., Huế trở thành thành trì vững chãi chặn đứng mọi ảnh hưởng tiêu cực ngoại lai, từ lối sống, nói năng, cử chỉ, thời trang.v.v... Và cũng từ sự níu kéo đó mà Huế lại là nơi sau cùng trong việc nhanh nhạy tiếp cận với cái mới, với những thành tựu mới của nhân loại trong giao lưu mở cửa.

Mục đích giáo dục như vậy những tưởng rất thực dụng nhưng xem ra vấn đề này hiện nay, còn đậm nét hơn rất nhiều, kể cả trong chính người học lẫn phụ huynh, với một chương trình quá nặng nề, tạo sức ép căng thẳng. Không gian gia đình hạnh phúc là môi trường lý tưởng cho sự phát triển tâm sinh lý trẻ thơ, cho gia giáo thực thi một cách có hiệu quả nhất. Thật là tai hại cho những ngộ nhận chuyển tải chức năng giáo dục của gia đình sang hẳn cho nhà trường và xã hội, lấp kín thời gian bằng những lớp học ngoài giờ, học thêm... Trong khó khăn, cuộc sống hiện đại dẫn đến tình trạng là những tiêu chí vật chất dễ bị đồng nhất với hạnh phúc. Không gian thiêng liêng của gia đình bên những bữa ăn, khoảng thời gian đầm ấm chuyện trò... sẽ thu hẹp dần, tỷ lệ nghịch với những bộn bề lo toan cuộc sống đời thường của các bậc phụ huynh.

2.2. Gia pháp:

Gia đình là không gian bảo bọc trẻ thơ lý tưởng nhất. Phương pháp gia giáo truyền thống phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng nổi bật ở sự chăm bẵm, bú mớm, dỗ dành trong vòng tay của mẹ, của bà: lo lắng từng giấc ngủ, miếng ăn, cái mặc; dõi theo từng động thái, cử chỉ, bước đi... Tất cả, nhằm tạo nên được một vành đai bảo bọc an toàn nhất cho trẻ thơ. Chính vì vậy mà đối với các bậc cha mẹ, con cái vẫn luôn bé bỏng như ngày nào. Trẻ thơ được nuôi dưỡng, dạy dỗ trong một môi trường đầu đời có thể nói là vô cùng êm dịu, và chắc chắn, tâm lý nuông chiều sẽ dễ bị nảy sinh ở trẻ thơ. Trong trường hợp này, vai trò của người cha với sự nghiêm khắc đến khó chịu luôn biểu hiện rõ nét ra bên ngoài, sẽ góp phần cân bằng trạng thái, uốn nắn lại các giềng mối kỷ cương. Luôn luôn có sự bổ trợ kịp thời giữa ông - cha và bà - mẹ, người nghiêm nghị với roi vọt, người dỗ dành hiền dịu.

Gia giáo truyền thống phải lấy nghiêm khắc làm trọng, thể hiện rõ ở biện pháp roi vọt khi cần thiết, với tinh thần “thương cho roi cho vọt”. Gia đình là môi trường tốt nhất cho nhân cách định hình và phát triển. Tuy nhiên, tính hai mặt của quan điểm gia giáo truyền thống này giờ đây dường như ít được tiếp nhận những giá trị nhân bản tích cực đích thực. Việc thầy dạy trò bằng bút, bằng roi, trò quỳ xơ mít hay những hình thức tương tự... đã trở nên xa lạ dần bởi quan niệm dân chủ thuần túy giản đơn. Tưởng chừng như những nhu cầu vật chất thường nhật sẽ thay thế được những nhu cầu tâm tư tình cảm, thay thế được thời gian gần gũi, chăm sóc nhau; đặc biệt là với chính sách dân số hiện nay, điều đó lại càng dễ được thực hiện khi mà trong gia đình chỉ có và còn lại rất ít thành viên. Một khi “thương” lại “cho ngọt cho bùi” một cách lạm phát như vậy, thì sự ỷ lại, cái tôi tự phát dễ thường nảy sinh và khó đi vào định hướng, bệnh “quý tử” là hệ quả tất yếu - cả ở chứng mập phì lẫn trong tính cách - vốn đang là vấn nạn trong xã hội Trung Quốc. Điều đáng nói từ cái roi là người đánh còn đau hơn cả nỗi đau của người bị đánh bởi trong những trường hợp thật cần thiết, gia giáo có biểu hiện bị lệch pha, cây roi mới được áp dụng. Người đánh buồn trước lỗi lầm của con cháu nhưng điều quan trọng hơn là mong sao cho nỗi đau đó thấm vào nếp nghĩ, để không còn tái diễn. Vua Tự Đức bị mẹ đánh roi vì tội bất hiếu là vậy [Trần Đình Hằng, 2002], hay chuyện một cụ ông đánh đòn cậu quý tử theo nhịp đọc từng trang kinh Phật bởi tội không vâng lời, vi phạm những điều cấm kỵ của gia đình. Không chỉ có vậy, như làng Kế Môn (nay thuộc xã Điền Môn, Phong Điền), chỉ mới đây thôi, vẫn duy trì cây roi tại đình làng để xử phạt những người vi phạm lệ làng.v.v. Gia phong xứ Huế là vậy, và ở Huế, những tệ con cái chửi cha mắng mẹ, trò (và cả phụ huynh) cãi lại, đánh cả thầy, thậm chí gây án mạng.v.v... lại càng tăng tính chất nghiêm trọng bội phần.

Tuy nhiên, roi vọt cũng tạo lực áp chế rất mạnh đối với lớp dưới và đặt trong quan niệm dân chủ hiện đại, điều đó thật không hợp lý. Với tinh thần và phương pháp giáo dục như vậy, tính đối thoại và trao đổi một cách thẳng thắn ở đây sẽ rất hạn chế. Giáo dục một chiều đầy áp lực từ trên xuống và chiều ngược lại, chỉ là sự trở trăn đơn phương của chính những người trên mà thôi.

Như vậy, điều đáng lưu ý là chúng ta phải xem xét quá trình giáo dục một cách đồng bộ giữa gia đình - nhà trường và xã hội mà không thể cắt đoạn đơn lẻ. Thật là không hợp lý nếu chúng ta chỉ nhìn thấy cái ngọn - tức là giáo dục nhà trường - mà quên đi cái gốc của vấn đề. Mọi phương pháp giáo dục tân tiến nếu áp dụng đơn lẻ vào nhà trường, tất cũng không ổn bởi nó theo một hướng khác, với một chất khác; còn giáo dục gia đình, vẫn chưa mấy đổi thay. Không thể đòi hỏi một tinh thần tự lập, một khả năng đối thoại ở học sinh từ nhà trường, bởi gia đình vẫn luôn là vòng bảo bọc an toàn nhất mà khi bước chân khỏi nó, đứa trẻ sẽ mất hết tự tin, niềm lạc quan sáng tạo. Cải cách giáo dục là công việc không thể một sớm một chiều mà chí ít, cũng phải trải qua từ một đến hai thế hệ thử nghiệm, hầu mong thay đổi dần từng bước, có hệ thống, tận nếp nghĩ của mỗi một bậc làm cha làm mẹ, và cả con cháu, bắt đầu từ việc tạo lập thói quen tốt, trở thành nếp.

2. 3. Yếu tố MẸ:

Trên danh nghĩa, người đàn ông là chủ gia đình nhưng thực tế như trên đã nói, người phụ nữ có vai trò rất quan trọng, tạo một nền móng rất vững chắc, đặc trưng nổi bật trong đại gia đình Huế xưa. Khi người chủ gia đình qua đời, luật pháp phong kiến uỷ quyền vai trò đó cho người phụ nữ cao nhất trong gia đình. Người phụ nữ là tấm gương của tứ đức, của đảm đang, lo việc “nội trị” cho đức ông chồng yên tâm “ngoại giao”; cũng là người thầy của con trẻ trong những bài học đạo đức luân lý, nữ công gia chánh. Chỉ có người phụ nữ Huế mới cầm roi dạy con như bà Từ Dũ đánh vua Tự Đức, chỉ có người phụ nữ Huế mới đủ độ nhẫn nhục và quyết tâm trị chồng đèo bồng bằng việc cắt thịt mình xào cho đức lang quân ăn.v.v... [Trần Đình Hằng, 2002]. Giáo dục gia đình ở đây đã đạt tới trình độ phân công hẳn trách nhiệm của mỗi bên, dựa trên đặc trưng thế mạnh của giới, của lứa tuổi.

Tuy nhiên, với những vai trò được phân định như trên, gia phong - gia giáo truyền thống xứ Huế lại giới hạn người phụ nữ trong khuôn khổ lễ giáo phong kiến, phạm vi gia đình, hạn chế việc học hành, thi cử, tham gia công tác xã hội.

2. 4. Quan niệm về chữ HIẾU:

Với quan niệm chữ Hiếu xuyên suốt, con cái phải có nghĩa vụ học hành chăm ngoan, biết vâng lời, biết xử thế để khỏi làm buồn lòng cha mẹ, góp phần làm rạng danh gia tộc, và sau cùng là phải phụng dưỡng người trên lúc về già, chu toàn mộ phần, giỗ chạp lúc quy tiên...

Từ lúc lọt lòng, người mẹ chăm ẵm, bú mớm nuôi nấng từng ngày, từng giờ, trong đêm khuya, lúc sáng sớm, giá lạnh hay nóng nực... đều không quản, lo cho con từ giấc ngủ, lúc rong chơi, trước khi đi xa, mong cho con mạnh khỏe, nên người. Tình cảm đó đã trở thấm đậm, trở thành máu thịt thiêng liêng trong tâm hồn con cái, họ cảm thấy thực sự hạnh phúc khi có nghĩa vụ được chăm sóc trở lại cha mẹ khi đã cao niên. Tình cảm gia đình và những lễ nghi gia tộc đã trở thành không thể thiếu trong con người họ, từ chuyện chăm sóc người trên, giỗ chạp, quét tước dọn dẹp bàn thờ, cho đến chuyện mộ phần... Mối dây ràng buộc thiêng liêng đó thực sự níu kéo họ trở thành vệ tinh quanh trục gia đình, không thể rời xa, có thể chấp nhận bỏ lỡ những cơ hội thăng tiến, thành đạt nổi bật hơn. Thực tế, việc hiếu đồng thời là nghĩa vụ thiêng liêng, cao cả và gánh nặng gia đình vẫn còn đè rất nặng trên đôi vai mỗi một người con xứ Huế.

3. Kết luận:


Một gia đình hạnh phúc trong quan niệm của người Huế không thể thiếu hẳn không khí và những bữa ăn ngon. Đại gia đình phân hoá, nhường chỗ cho xu thế gia đình cá thể. Không gian nhà vườn truyền thống cũng bị phân rã nghiêm trọng theo xu thế tất yếu của lịch sử, dưới tác động của nền kinh tế thị trường [Trần Đình Hằng, 2002b]. Như vậy, môi trường thiết yếu của gia giáo - gia phong xứ Huế đã mất đi nhiều giá trị truyền thống. Trong xã hội hiện đại, chức năng của gia đình như bị thu hẹp lại, chuyển giao chức năng giáo dục cho nhà trường và xã hội. Một vấn đề cần được xem xét trên nhiều khía cạnh, cả tích cực lẫn tiêu cực. Sự bảo lưu đậm nét những giá trị văn hoá gia phong truyền thống, gắn liền với vai trò của gia đình - dòng họ là di sản quý báu của xứ Huế hôm nay. Điều đó lại càng có ý nghĩa một khi hệ chuẩn mực phương pháp giáo dục cũ đang mất đi và cái mới đang hình thành. Biết kết hợp hài hoà mối quan hệ giáo dục gia đình - nhà trường và xã hội trên cơ sở gia phong truyền thống Huế, sẽ góp phần quan trọng trong việc định hình nhân cách trẻ thơ cũng như sự hài hoà trong nội dung giáo dục đạo đức luân lý, kỹ năng hướng nghiệp và tri thức ứng xử.

Trần Đình Hằng*

-----------------------------------------------------------------------------------------------
*Thạc sĩ, Phân viện Nghiên cứu Văn hoá Nghệ thuật tại Thành phố Huế.
[1] Bạch hổ thông nghĩa của Ban Cố chú thích: Phụ là củ, lấy pháp độ dạy con. Phu là phù, lấy đạo chồng mà nâng đỡ. Phụ là phục, lấy lễ mà khuất phục chồng. Bằng là đảng, đảng phái. Hữu là hữu (có), có bạn. Đệ là đễ, phải thuận theo và thành thực. Tộc là họ hàng, tụ họp cùng sinh sống. Nam là nhiệm, đảm nhiệm công việc, công nghiệp. Nữ là như, gái phải theo chồng... [Lê Quý Đôn, 1962, 26]
[2] Như các vị Tiền hiền Khai canh làng Mỹ Lợi (trước là phường Mỹ Toàn) vốn là những vị Trung Nghĩa quân. Theo tờ thị năm 1688 của phủ chúa gửi cho phường Mỹ Toàn thì dân phường được miễn mọi thuế má, tạp dịch nhờ công lao trung nghĩa quân của các vị khai canh khai khẩn nhưng phải chịu sai dịch cho phủ chúa, hằng năm nộp thuế sản vật bằng củ mài - tức là Thự dự, hay còn gọi là Hoài sơn [Lê Văn Thuyên... ,1999, 74].
[3] Luật pháp phong kiến khắt khe, theo lệ đào binh thì gia tộc phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc trốn lính của con em. Chế độ công tượng thời Nguyễn quy định đối với các ngành nghề thủ công, các gia đình không được ghi danh con em họ vào ngạch khác, nếu không sẽ nghiêm trị phụ huynh [QSQ triều Nguyễn, 1972, XXVII, 236; Nội Các triều Nguyễn, 1993, IX, 402 - 403...].


Phần II

NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP GIA ĐÌNH THÂN TRỌNG

1. Đôi lời thưa trước:

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến thầy giáo, nhà sinh vật học lão thành Thân Trọng Ninh đã có lời mời, cho tôi có điều kiện tham gia Ban Thư ký Hội đồng Thân tộc để tổ chức nhiều hoạt động, đặc biệt là Hội thảo khoa học Thân tộc trong lịch sử Việt Nam (Huế, 11/2004). Nhờ vậy mà tôi mới được phép sử dụng khối tư liệu phong phú về họ Thân, đặc biệt là các nguồn gia phả, trước tác của các bậc tiền bối và nhiều tài liệu gia tộc quan trọng khác, mà không dễ gì, một ai có thể được tiếp cận.
Huế một thời là kinh đô của cả nước, gắn liền với vai trò đặc biệt của một dòng họ đặc biệt: Hoàng tộc Nguyễn Phước. Trong trường hợp này, yếu tố gia - nhà và quốc - nước như quá gần, có khi là một, có cả một cơ quan Tôn Nhân Phủ điều hành và quản lý Hoàng tộc; nhiều khi, gia lễ đã mặc nhiên là quốc lễ (như cúng tế ở Triệu Tổ Miếu, Thái Miếu...). Ngoài Hoàng tộc, Huế cũng có nhiều cự tộc - danh gia vọng tộc: là đối tượng Đại gia đình mà chúng tôi muốn tập trung khảo sát cho việc tìm hiểu vấn đề Gia phong, một yếu tố được coi là nền tảng của văn hoá Huế.

Sở dĩ tôi chọn tiêu đề bài viết như trên là bởi sau tiểu luận đầu tiên mang tính gợi mở vấn đề, tôi muốn đi sâu tìm hiểu các Đại gia đình ở Huế và ở đây là bước đầu tiên, xuất phát từ một câu nói của vua Tự Đức:

“Nhất Thân, nhì Hà, thiên hạ vô gia;
Nhất Hà, nhì Thân, thiên hạ vô dân”.


Mà có lẽ về sau, dân gian còn có nhiều dị bản, như “Họ Thân không nhà [bởi chỉ ở dinh phủ], họ Hà không dân [chỉ làm quan]” v.v...

2. Từ họ Thân đến nhánh Thân Trọng ở Huế:

Họ Thân ở nước ta khởi nguồn từ vùng Bắc Giang, nguyên là Lạng Châu dưới thời Lý. Xuất phát từ chính sách ngoại giao “nhu viễn” qua hôn nhân, vị chúa của Giáp Động là Giáp Thừa Quý đã trở thành phò mã của nhà Lý, được ban họ, đổi thành họ Thân. Vị trí phên dậu của vùng đất và uy danh dòng họ càng phát triển, thêm vào đó là con trai (Thân Thiệu Thái) và cháu nội ông (Thân Cảnh Nguyên) cũng trở thành phò mã (Lý Thường Kiệt, 1966: 108). Về sau, nhiều nhân vật họ Thân đã góp phần làm rạng danh gia tộc, dân tộc, như Thân Nhân Trung nổi tiếng với câu nói “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” (được khắc trên bia số 1 ở Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội, viết năm 1442 thời Lê Thánh Tông), Thân Nhân Tín, Thân Nhân Vũ, Thân Công Tài (người có công khai mở và phát triển xứ Lạng, với Đồng Đăng, Kỳ Lừa thế kỷ XVII) v.v...

Do thiên tai, địch hoạ, gia phả họ Thân ở làng An Lỗ (xã Phong Hiền, huyện Phong Điền) nay chỉ còn bản sao của đời sau, chỉ biết rằng ngài thuỷ tổ Thân Đại Lang từ đất Bắc, sau công cuộc bình Nam thắng lợi, đã ở lại cùng ngài họ Đỗ, họ Nguyễn khai phá lập làng. Ngài được sắc phong là Thành Hoàng làng An Lỗ (Địa bộ sử An Lỗ). Đến đời thứ 10, ông Thân Trọng Bảng (1704 - 1783, chức Tri huyện, được phong tước Tử) mới chuyển vào làng Nguyệt Biều (nay thuộc xã Thuỷ Biều, Thành phố Huế).

3. Cơ sở của sự mệnh danh“nhất... nhì Thân”:
3.1. Bước đường hoạn lộ:


Hoạn lộ trong lịch sử Việt Nam, có thể xuất phát từ một trong những yếu tố sau:

3.1.1. Tiến cử: lời giới thiệu bảo đảm của một đại thần.
3.1.2. Võ cử: thành đạt từ binh nghiệp.
3.1.3. Nhiệm tử: chế độ tập ấm.
3.1.4. Khoa cử, tức là học hành, đỗ đạt ra làm quan; bao gồm cả các tiến sỹ võ.

Căn cứ theo gia phả thì sự rạng danh của họ Thân ở Huế, chủ yếu là từ các yếu tố tiến cử và khoa cử. Có thể thấy bước ngoặt tham chính của họ Thân là ở đời thứ 12: ông Thân Văn Quyền (1771-1837) (đời thứ 11 là ông Thê: 1745-1812). Ông Quyền được Nguyễn Hữu Thận và Trịnh Hoài Đức tiến cử năm 1823, bằng tài năng và đức độ, được thăng dần từ chức Giáo thụ tỉnh Quảng Nam, và cho đến lúc mất là Bố Chánh tỉnh Định Tường.

Đời thứ 13 có các ông Thân Văn Duy (1796 - 1828) và Thân Văn Nhiếp (1804 - 1872).

Ông Duy đỗ cử nhân năm 1819, làm quan đến chức Hiệp trấn Thanh Hoá, có hai người con thành danh là (1) phò mã Thân Văn Di (1825-1885, lấy Lại Đức công chúa Trinh Thận, tức nữ sỹ Mai Am, con vua Minh Mạng) và (2) tiến sỹ Thân Trọng Tiết (1828-1858, đỗ tiến sỹ năm 1851, làm quan phẩm hàm đến Thị Độc Học Sỹ).
Ông Nhiếp đỗ Giải nguyên năm 1841, được cử làm Hậu bổ tỉnh Khánh Hoà, sau làm quan dần đến chức Tổng đốc Bình - Phú. Chính ông là người đã khâm mạng dâng hai chữ Tự Đức và được chọn dùng làm niên hiệu của vị vua thứ tư triều Nguyễn (theo Gia phả họ Thân).

Thân Trọng Huề (1869-1925) là con của Tổng đốc Thân Văn Nhiếp, con rể của Kiên Thái Vương, từng du học nhiều năm ở Pháp. Sau khi về nước năm 1895, lãnh chức Biên tu ở Cơ Mật Viện, rồi dần đảm trách Hàn Lâm Viện Thị Giảng (1897), Án sát Khánh Hoà (1901), Thái Thường Tự Khanh (1902), giữ chức Bố chánh Quảng Nam (1903), Án sát, Tuần vũ, Tổng đốc các tỉnh thành Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nội (1911-1915), Hiệp tá Đại học sỹ (1921). Đầu năm 1921, được vua Khải Định triệu về Kinh, giữ chức Cơ Mật Viện đại thần, Thượng thư bộ Học, kiêm quản bộ Binh và Đô Sát Viện (Hồ Đắc Khải, 1925: 209-210).

Về sau, truyền thống đó còn được tiếp nối bởi Lễ bộ Thượng thư Thân Trọng Ngật (Phó bảng 1904), Bác sỹ - nhà trí thức yêu nước vùng nội đô Huế sau Cách mạng Tháng 8 Thân Trọng Phước, người anh hùng của trung đoàn Trần Cao Vân Thân Trọng Một, nhiều nhà khoa bảng thời hiện đại v.v...
Chúng tôi còn may mắn được đọc ba bài thơ [1] về Tri huyện huyện Kim Sơn (Ninh Bình) Thân Trọng Yêm của cụ Vũ Xuân Quỳnh, dạy học ở đây, những năm 1930-1931, ca ngợi công lao trị thuỷ, dẫn thuỷ nhập điền của ông. Đặc biệt là dân địa phương còn chiết tự tên ông để đặt tên cho ba con sông trong vùng; Yêm Giang (lớn nhất), Trọng Giang và Thân Giang.
V.v...

3.2. Sự tu thân, tề gia:

Tôi rất lý thú khi biết được người đầu tiên ghi lại sử liệu kinh điển về chuyện dạy con bằng roi của bà Từ Dũ với vua Tự Đức lại chính là ông Thân Trọng Huề (Đông Dương tạp chí, số 61- 62). Điểm nhấn mạnh ở đây, dù là vua tối thượng nhưng trong gia giáo, vẫn phải giữ đúng lễ nghĩa và nếu vượt rào, vẫn chịu sự trừng phạt của gia pháp: cây roi.

Toàn bộ nền tảng của giềng mối luân lý ấy đã được ông tóm lược trong hai chữ “lễ nhạc”: một xã hội cũng như một gia đình, phải có thế thứ và mỗi thành viên, phải luôn nỗ lực trau dồi để làm tốt phận sự, chức trách của mình, tức là không ngoài hai chữ trung, hiếu:

“Trung ư quân, không phải là làm cho vua vui lòng riêng, mà phải lo cho việc nước ngày càng thịnh vượng. Hiếu ư quân không phải là làm cho cha mẹ vui lòng một lúc, mà phải lo cho việc nhà ngày càng quang xương. Nhưng mà xưa nay, nhiều người hiểu sai cái nghĩa ấy. Có kẻ muốn vui lòng vua không dám can ngăn, để cho việc nước phải đồi bại; có kẻ chỉ biết gần cha mẹ sớm khuya phụng dưỡng là tròn phận làm con. Những người hiểu hai chữ trung, hiếu như vậy là hiểu một cách hẹp hòi. Hiện bây giờ cũng có người tưởng rằng đến cửa vua mà cúi đầu vòng tay là tận trung, kỵ giỗ cha mẹ mà có mâm cao cỗ đầy là tận hiếu. Trung hiếu như vậy thì dễ lắm, trẻ con cũng làm được! Phải hiểu rằng không gì làm vua vui lòng bằng thấy việc nước càng ngày càng thịnh vượng; không gì làm cha mẹ vui lòng bằng thấy việc nhà càng ngày càng quang xương.
Ai muốn tu lòng trung thì phải tìm cách làm cho nước nhà thịnh vượng và phải gầy dựng nhân tài để ngày sau giúp cho sự thịnh vượng ngày càng thêm; ai muốn tu lòng hiếu thì phải lo việc nhà cho quang xương và phải nuôi dạy con cháu để về sau việc nhà cứ quang xương mãi...
”(Thân Trọng Huề, 1991:173).

Có gia tộc thì không thể không có gia phổ nhưng do thiên tai địch hoạ, gia phổ họ Thân ở Huế, trong 6 đời đầu tiên, thiếu nhiều sự tích, thế thứ rõ ràng. Do vậy mà ông Thân Văn Quyền do bận rộn việc công, trước khi mất đã trối trăn lại với con trai là “phải biên chép gia phổ cho rõ ràng”. Người con là Thân Văn Tuyến thực hiện trọng trách này:

“Mà dạy bảo cho con cháu sắp đến. Mai sau gây nòi giống, công lớn đức dày của ông bà được sách cùng pho sử của một nước nhà truyền lâu mãi mãi”
(Thân Văn Tuyến, 1840).

Trong Thân tộc, thờ cúng gia tiên là chất keo kết dính mọi thành viên, luôn được quan tâm đặc biệt, với phương châm xuyên suốt của Nho học: “Tuỵ dĩ tổ khảo tinh thần” [tinh thần của tổ tiên nên nhóm họp lại, không nên chia lìa]. Trong Lời bàn hiệp tự, ông Thân Trọng Ngật nhấn mạnh tính thời sự của vấn đề gia tộc, nhất là thờ cúng tổ tiên:

“Đương buổi đời văn minh này, nước nào cũng trọng chủ nghĩa đoàn thể, nước có đoàn thể nước, làng có đoàn thể làng, gia tộc cũng nên phải có đoàn thể gia tộc. Muốn tổ chức mà làm cho đầy đủ vững bền cái đoàn thể của gia tộc, trừ cái việc thờ chung thì không có cái chước gì hay hơn”.

Thông thường thì trong đạo thờ cúng tổ tiên ở Huế, việc phụng thờ được phân định từ họ - nhánh phái - chi và cuối cùng là gia đình với giới hạn 5 đời. Thực tế đó ở họ Thân, lại ảnh hưởng xấu đến tình gia tộc, bởi:
“Con cháu ngày càng đông, nhà thờ đã chỉnh đốn rộng rãi mà mỗi năm tới hầu nhà thờ chỉ có vài lượt, ngày tụ hội thì ít, tình thân mật càng lạt lẽo đi, danh giá họ mình cũng nên lấy đó làm lo sợ”
.

Cho nên từ những năm 1930, họ Thân chủ trương hiệp tự:
“Thuận rước các vị đã quá cố thờ riêng ở các nhà tư tới nhà thờ phái mà tùng tự... Tết nhứt, kỵ chạp gì cũng làm lễ tại nhà thờ”.


Thậm chí trước ngày kỵ, người giám từ phải báo cho bà con biết:
“Để tới hầu kỵ cả, trước là để sùng bái người đã qua đời, sau là tỏ tình thân ái với người trong gia tộc, không ai nên làm lơ mà không tới” và “trừ người đi ra ngoài vắng, còn ai ở nhà mà không tới phải phạt” (Thân Trọng Ngật, 1933-1946)

Thậm chí để có được không gian, tình cảm thiêng liêng trong việc “thờ chung” đó, gia tộc còn mạnh dạn đổi ngày giỗ chạp cho đúng với chủ nhật - ngày nghỉ phù hợp với điều kiện đông đảo con cháu là công chức nhà nước. Biên bản buổi họp nhánh Thân Trọng ngày 20/4/1964 đã thống nhất tổ chức lễ kỵ Tổ vào ngày chúa nhật thứ nhì trong tháng 11 ÂL, lễ chạp hay hiệp kỵ vào ngày chúa nhật đầu tiên trong tháng 3 ÂL bởi:
“Nếu có lễ ở Từ đường mà không gặp ngày nghỉ của chính phủ định sẵn, đa số con cháu (công chức, học sinh...) phải vắng mặt, vì muốn đến dự lễ phải xin phép, mà việc xin phép không phải khi nào cũng được chấp thuận. Vậy chọn ngày chúa nhật là ngày rãnh của chúng ta, được tự do đến dự lễ”.

Có như vậy mới giải quyết được vấn đề quan trọng, mang tính lâu dài:
“Còn cứ khư khư không chịu cải tổ thì sẽ thấy vài ba ông hưu lão, nông dân, thợ thuyền... ở quanh quẩn gần từ đường đến dự lễ như lâu nay, cảnh buồn tẻ sẽ không khi nào chấm dứt”.

Trong Lý do chọn ngày, Thân tộc nhấn mạnh là “để gặp đông đủ bà con, củng cố tinh thần gia tộc của tổ tiên lưu truyền lại”, quan trọng hơn:
“Người lớn đi dự lễ có thể đem theo một vài trẻ em, tập cho chúng quen cái không khí lễ nghĩa ở Từ đường, mà nền giáo dục hiện đại theo lối Tây phương ít chú trọng đến” (Thân tộc, 1964).

Từ đây, việc tổ chức nghi lễ cũng được quy định đến mức chi tiết. Đặc biệt là nhánh phái còn tiến hành thường niên vào ngày tảo mộ một cuộc viếng thăm mộ phần tổ tiên bởi “rất cần thiết cho lớp trẻ tuổi”, theo lối hướng đạo đi cắm trại, đến mộ Ngài Khai canh ở An Lỗ hoặc mộ các bậc tiền bối ở Cửa Sỹ, ở núi Ba Vành (Thân tộc, 1964).

Có thể thấy được sự sum vầy đó qua một lễ hiệp tế ở nhà thờ Thân Trọng trước năm 1945:
“...Suốt đêm điện sáng, năm gian khắp,
Đón gió, cờ giăng mấy dãy liền.
Nghĩ đến quan xa, xe chật cửa,
Đi về, con cháu bến đầy thuyền...”
(Thân Trọng Ngật, 1943).

Theo tôi, có lẽ việc để lại di chúc như ông Thân Trọng Cảnh năm 1922 [2] là một hiện tượng lạ với người Việt Nam đương thời. Nội dung chúc thư không phải giải quyết thừa kế tài sản mà là lo chuyện hậu sự và căn dặn cháu con phải đoàn kết sum vầy. Một đời làm quan “18 năm, phần nhiều về giáo chức đạm bạc, bổng thừa chỉ đủ nuôi mấy con khôn lớn cho ăn học mà thôi”, ông chỉ muốn sau khi chết, liệm ông bằng áo quần cũ, không nên may mới; mâm cỗ không nên bày hào soạn, “chi tiêu các khoản đó các con tuỳ sức mà đóng góp, chừng trong 50 đồng lên xuống, nên rất giản tiện, chớ bắt chước theo xưa mà lãng phí”. Ruộng vườn gia đình ông cũng “chỉ nhờ của ông bà để lại, còn ta không tạo được sở nào, cũng không mua được vật gì để lại cho con cháu bởi vì lo giữ thói nhà thanh bạch nên thế”. Lo con cháu “ăn học”, ông muốn sau khi qua đời, họ có thể:
“...điều kiển được gia nghiệp thời nên chớ đem lòng giành dài đua vắn, đều nên thân ái cùng nhau, chớ nghe lưỡi dài của đàn bà để cho khỏi sự mâu thuẫn, cùng nhau mà mà giữ trọn thanh danh của mình. Nếu có giàu nghèo không đều nhau cũng nên bắt chước người xưa đắp đổi châu cấpcho nhau, tuy có khác mẹ cũng nên thương nhau như là một mẹ, ấy là lòng ta trông mong như thế” (Thân Trọng Cảnh, 1922).

Thật khó có được nhiều chứng lý cụ thể để khẳng định vị thế đặc biệt của người phụ nữ trong đại gia đình Huế xưa ngoài những tư liệu phỏng vấn hồi cố, những giai thoại v.v... Nhưng rõ ràng là không thể không nhấn mạnh đến vai trò “nội tướng”: đức tính dịu dàng, mềm dẻo, khéo léo và kiên nhẫn của họ là sự bổ sung, khắc chế một cách hoàn hảo nhất trước chất “gia trưởng” lắm lúc đến cực đoan của chủ nhân - thường gắn liền với hình ảnh cây roi/gia pháp, gia quy. Chính bàn tay người phụ nữ là yếu tố quyết định mang lại sự chu toàn trong quá trình vận hành của một đại gia đình, có đến những hơn trăm người:
“...Có kẻ đến chơi mới hỏi thăm
Gia đình nhiều ít nói cho nhằm
Dâu con ruột ghẻ vừa ba chục
Nội ngoại gái trai đủ sáu lăm
Hầu già hầu trẻ còn một cặp
Cháu dâu cháu rể tính vừa năm
Lại thêm tám chắt kêu bằng cố
Cộng lẻ mười lăm với một trăm”
(Thân Trọng Quả, 2001).

4. Kết luận:

Có thể coi quan niệm về giềng mối đạo đức, lối sống thanh cao, giản dị theo chuẩn mực của nhà Nho là những yếu tố quan trọng tạo nên gia phong của gia đình Thân Trọng. Hoàn toàn không phải ngẫu nhiên mà phải thấy được lời phát biểu của vua Tự Đức phải xuất phát từ sự xem xét chín chắn những giá trị gia phong ấy, thông qua những người con cụ thể trong gia đình họ Thân, như ông Thân Văn Nhiếp đương thời.
Mãi về sau, con cháu vẫn rất tự hào về điều đó, ở ngay chính ngôi Từ đường:
“...Đồ sộ bê tông một sở nhà
Phen này mới thấy gầy dựng ra
Nền xây mái đúc che mưa nắng
Phước lớn đức dày đủ hoạn khoa
Rộng rãi đủ vui lòng con cháu
Nguy nga cũng rạng tiếng ông bà
Lưu truyền vạn đại trơ trơ mãi
Bia miệng nhất Thân chẳng lẽ ngoa...”
(Thân Trọng Quả, 2001).

Nếu như Huế đầu thế kỷ XX từng tồn tại một số tờ báo gia đình thuộc dạng “xưa nay hiếm”, như Sum Viên (Nguyễn Hữu, Dương Xuân), và thậm chí trong thời hiện đại, hậu thế còn khôi phục di sản độc đáo đó cả trên Internet như Hương Xưa của gia đình Đặng Ngọc (Huế) v.v... thì ở đây, Hội đồng Thân tộc còn có chương trình hoạt động đến năm 2010, kỷ niệm 1000 năm Thân tộc (từ sự kiện Giáp Thừa Quý trở thành phò mã Thân Thừa Quý thời Lý); hoàn thành gia phả Thân tộc trong năm 2005 và đặc biệt là Hội thảo Thân tộc trong lịch sử Việt Nam v.v...
Những hoạt động đó càng thắt chặt tình gia tộc, gìn giữ và bồi bổ gia phong, thực sự có ý nghĩa trong đời sống xã hội hiện đại.

Trần Đình Hằng*

---------------------------------------------------
[1] Ba bài thơ này do chính cụ Vũ Xuân Quỳnh trao tặng cho ông Thân Trọng Ninh trong dịp gặp nhau tại Sài Gòn năm 1976. Cơ duyên, ông Ninh lại từng là thầy giáo của con trai cụ Quỳnh thời kỳ ở Nam Định những năm sau 1954.
[2] Thân Trọng Cảnh (1860 - 1924), con trai của Thân Văn Nhiếp, cử nhân khoa Đinh Hợi 1877, làm quan đến chức Đốc học tỉnh Khánh Hoà (1909), thăng đến Quang Lộc Tự Thiếu Khanh (1917).
Tài liệu tham khảo: Phần I
1. Phí Văn Ba (1990), “Sự biến đổi của các truyền thống gia đình nông thôn trong quá trình hiện đại hóa: Phác thảo theo các kết quả điều tra xã hội học gần đây”, Tạp chí Xã hội học, số 3.
2. Đỗ Bang, Trần Đình Hằng (1997), Đặc điểm đạo thờ cúng tổ tiên của cư dân vùng Huế, trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học về tôn giáo miền Trung & Tây Nguyên, Huế: Khoa Lịch Sử ĐHKH Huế & Viện Nghiên cứu Tôn giáo.
3. Diêm Ai Dân (2001), Trung Quốc cổ đại đích gia giáo [Gia giáo Trung Quốc cổ] (Cao Tự Thanh dịch), Tp.HCM: Nxb Trẻ.
4. Nguyễn Đăng Duy (1998), Nho giáo với văn hóa Việt Nam, Nxb Hà Nội.
5. Nguyễn Kim Định (1973), Cơ cấu Việt - Nho, Sài Gòn: Nguồn Sáng xb.
6. Lê Quý Đôn (1962) Vân đài loại ngữ, tập II, Hànội: Nxb.Văn hóa.
7. Lê Quý Đôn (1977), Phủ biên tạp lục (Toàn tập, T1), Hà Nội: Nxb KHXH.
8. Trần Đình Hằng (2001), “Chức năng giáo dục gia đình trong giai đoạn hiện nay”, trong Thông tin Khoa học, Phân Viện NCVHNT tại Thành phố Huế, số tháng 3.
9. Trần Đình Hằng (2002), “Nhân ngày gia đình Việt Nam: Chuyện Huế ít được biết”, trong Kiến thức ngày nay, số ra ngày 01/7.
10. Trần Đình Hằng (2002b), “Quá trình phân rã nhà vườn xứ Huế, dẫn liệu từ một con đường”, trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học Di sản nhà vườn xứ Huế và vấn đề bảo tồn, Huế: Phân Viện NCVHNT tại Huế, Sở VHTT TTHuế, Vp. Festival Huế.
11. Trần Trọng Kim (1993), Nho giáo. Nxb Thành phố Hồ Chí Minh.
12. Vũ Khiêu (1992), Nho giáo xưa và nay. Hà Nội: Nxb. KHXH.
13. Lê Minh (2000), Gia đình và người phụ nữ, Hà Nội: Nxb Lao động.
14. Nội Các triều Nguyễn (1993), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ. Huế: Thuận Hoá.
15. Nhiều tác giả (1994),Gia đình và giáo dục gia đình, Hà Nội: Nxb. KHXH.
16. Nhiều tác giả (1990), Một vài nét về nghiên cứu gia đình Việt Nam, Hà Nội: KHXH.
17. QSQ triều Nguyễn (1962-1978), Đại Nam thực lục. Hà Nội: Nxb.KHXH.
18. Trần Từ (1996), “Về gia đình truyền thống người Việt”, trong Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người. Hà Nội: Nxb. Văn hóa Thông tin.
19. Lê Văn Thuyên, Lê Nguyễn Lưu (1999), Địa chí văn hóa làng Mỹ Lợi. Huế: Nxb. Thuận Hóa.
20. Trung tâm NC Gia đình và phụ nữ (1995), Gia đình và địa vị người phụ nữ trong xã hội: cách nhìn từ Việt Nam và Hoa Kỳ, Hà Nội: Nxb KHXH.
Tài liệu tham khảo: Phần II
1. Địa bộ sử làng An Lỗ, dịch từ nguyên bản Hán Nôm, hiện lưu tại nhà ông Thân Trọng Sinh (Nguyệt Biều).
2. Đỗ Văn Ninh (2000), Văn bia Quốc Tử Giám Hà Nội, Hà Nội: Nxb.Văn hoá Thông tin.
3. Hoàng Xuân Hãn (1967), Lý Thường Kiệt, Sài Gòn: Ban Tu thư Viện Đại học Vạn Hạnh.
4. Hồ Đắc Khải (1925), “Thượng thư Thân Trọng Huề”, trong B.A.V.H, tập XII, số 3 (7-9/1925: 209-210 (bản dịch của Thân Trọng Sơn).
5. Sở VHTT Hà Bắc, Huyện uỷ Việt Yên (1995), Thân Nhân Trung, con người và sự nghiệp.
6. Thân tộc (1964), Biên bản buổi họp nhánh Thân Trọng ngày 20/6/1964.
7. Thân Trọng Cảnh (1922), Di chúc nguyên từ, bản dịch của Võ Nguyên Lượng.
8. Thân Trọng Huề (1991), “Cung dịch thánh ý”,trong Ngô Thị Quý Linh Sử xanh lưu truyền, Texas, Hoa Kỳ: Ý Linh xuất bản.
9. Thân Trọng Huề, “Chân dung của Đức Dực Tôn Anh Hoàng Đế”, trong Đông Dương tạp chí, số 61, 62.
10. Thân Trọng Ngật (1933-1946), Lời bàn hiệp tự của phái Thân Trọng.
11. Thân Trọng Ngật (1943), Lễ hiệp tế nhà thờ họ Thân.
12. Thân Trọng Ngật (1965), Gia phổ họ Thân.
13. Thơ Tu Dõng Thân Trọng Quả (Huế, 2001)
14. Thân Văn Tuyến (1840), Bài tự, nguyên bản Hán văn, bản dịch của Thân tộc.
15. Trung tâm UNESCO Thông tin Tư liệu Lịch sử Văn hoá Việt Nam & Bảo tàng Bắc Giang (2000), Hiền tài là nguyên khí quốc gia.

Quay lại Trang chủ In ấn
» Họ Thân ở Huế (06-15-2010)
» Tổng kết Hội thảo họ Thân trong lịch sử Việt Nam (Huế, 28/11/2004) (06-15-2010)
» Hội thảo II: "Kỷ niệm lần thứ 200 sinh Thân Văn Nhiếp 1804-2004" (06-15-2010)
» Thân tộc với vùng đất Quảng Nam (06-15-2010)
» Sự nghiệp Thân tộc trong lịch sử Việt Nam (06-15-2010)
» Những tên tuổi sáng danh họ Thân trong lịch trình tiến hóa Việt Nam (06-15-2010)
» Hội thảo I: "Kỷ niệm 500 năm ngày mất của Thân Nhân Trung 1499-1999" (06-15-2010)
 
Thông báo nội bộ
CHƯƠNG TRÌNH KỶ NIỆM "1000 NĂM HỌ THÂN" TẠI BẮC GIANG
Nhân ngày giỗ tổ họ Thân hằng năm (29/10 â.l.), năm nay, 2010, tại Bắc Giang, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Giang, phối hợp UBND huyện Lục Ngạn và Hội đồng Thân tộc Việt Nam đứng ra tổ chức Lễ kỷ niệm “1000 năm họ Thân” tại tỉnh nhà. ... chi tiết
Thông báo số 3 (Tin mới)
Kỷ niệm “1000 năm họ Thân” tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội ... chi tiết
Lễ kỷ niệm
Kỷ niệm “1000 năm họ Thân” tại Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội ... chi tiết
Lễ kỷ niệm “1000 năm họ Thân”
... chi tiết
Hội đồng Thân tộc Hà Nội - 2010
... chi tiết
Liên hệ
Đóng góp / Phản hồi
Hội thảo dòng họ Thân
Hoạt động của dòng họ
Họ Thân với đất nước
Thông báo
Tổng truy cập: 350763
Đang xem: 1
 
 
 
 
 
 
 

© 2004 Họ Thân Việt Nam
Chủ nhiệm: Ông Thân Thêm
Điện thoại: +84 913425131 | Email: thanthem@gmail.com | thanthem@hothan.org
Website: www.hothan.org                                                                    Click vào đây để Quản trị nội dung (CMS)