Bia Tiến sĩ Thân Nhân Trung
“Hiền tài nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp. Vì vậy các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên. Kẻ sĩ quan hệ với quốc gia trọng đại như thế, cho nên quí chuộng kẻ sĩ không biết thế nào à cùng” - Thân Nhân Trung, Bia tiến sĩ khoa nhâm tuất 1442.

Kính nghĩ: Việc dựng đá đề tên được làm, thì ý tốt cầu hiền tài mưu thịnh trị của các đức thánh tổ thần tông mới được lưu truyền mãi mãi. Đó là phép lớn để khuyến khích người đời, là vinh hạnh lớn cho nền văn hóa. Thần tuy nông cạn, vụng về nhưng đâu dám chối từ, xin kính cẩn chắp tay cúi đầu mà làm bài ký rằng.

Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp. Bởi vậy các đấng thánh đế minh vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên. Kẻ sĩ có mối quan hệ thật là quan trọng đối với sự phát triển của đất nước. Vì thế cái ý tôn trọng họ thật là vô cùng, nên đã ban ân sủng bằng khoa danh, lại gia thêm bằng tước trật, ơn ban cho đã lớn, vẫn còn cho là chưa đủ.

Lại cho để tên ở Tháp Nhạn, ban tự hiệu ở bảng Lonh Hổ, mở tiệc vui triều đình mừng được người tài, không cái gì không ở mức cao nhất. Ngày nay thành thượng cho rằng việc lớn lao đẹp đẽ tuy lừng lẫy vang dội một thời, song lời khen tiếng thơm chưa đủ để tuyên truyền lại vạn đời. Cho nên dựng đá để tên đặt ở cửa Quốc Tử Giám, khiến kẻ sĩ trông lên thấy hâm mộ, phấn khởi, cố gắng rèn luyện danh tiết, dốc sức giúp rập hoàng gia. Há chỉ là chuộng hư danh ham văn suông mà thôi đâu! Ôi! Kẻ sĩ chốn trường ốc, lều tranh, số phận thật nhỏ bé mà được triều đình đề cao như vậy thì cái chí của họ vì tự trọng bản thân mà phải lo báo đáp. Hãy đem tên họ những người đỗ trong khoa này mà kê lại. Những người đưa vào văn học chính sự tô điểm cho cảnh thịnh trị, thanh bình, vài chục năm trở lại đây, được quốc gia tin dùng, kể cũng nhiều vậy. Nhưng trong số đó cũng có kẻ vì hối lộ mà hư hỏng, hoặc sa ngả vào cùng loại với bọn gian ác, là bởi vì lúc họ sống chưa được nhìn thấy tấm đá trinh bạch này thôi. Giả sử hồi đó họ kịp nhìn thấy thì ắt hẳn lòng thiện sẽ tràn đầy, ý ác được ngăn chặn, đâu dám làm chuyện càn bậy. Thế thì việc dựng tấm bia đá này, ích lợi biết chừng nào. Kẻ ác lấy đó làm răn, người thiện theo đó mà cố gắng. Làm sáng tỏ những điều đã qua, mở rộng dây bảo cho hậu thế. Một là để dài mãi tư chất danh tiết ho kẻ sĩ, hai là củng cố sự bền vững của quốc gia. Thánh thần làm như vậy, đâu phải chuyện vô ích. Vậy ai nhìn thấy cũng nên hiểu rõ ý này.

Thần kính cẩn ghi lại.
Thần là Phụng trực đại phu, Hàn lâm viện thừa chỉ, Đông các đại học sĩ Thân Nhân Trung vâng mệnh theo sắc soạn bài ký.
Thần là Cẩn sự lang, Trung thư giám chính tự Nguyễn Tảng vâng theo sắc viết chữ.
Thần là Mậu lâm lang Kim Quang môn Đãi chiếu Tô Ngại vâng theo sắc viết chữ triện.
Dựng bia ngày 15 tháng 8 năm Hồng Đức thứ 15 (1484)
Bài ký để tên Tiến sĩ khoa Đinh Mùi niên hiệu Hồng Đức thứ 18 (1487)
Trời mở cuộc thịnh trị thái bình ức vạn niên cho nước nhà, ắt sinh ra các bậc hiền tài để nước nhà sử dụng vậy. Bởi vì, nền giáo hóa thịnh trị là gốc ở việccó người tài, người hiền tài đông đảo là do giáo dưỡng. Kinh Thi nói: “Kẻ sĩ đông đúc trong nước vua”. Lại nói: “Chu Vương thọ thảo há không tác thanh cho người tài ư?”. Thế thì nền thái bình thịnh trị dài lâu mở ra, nếu không có người tài đông đảo thì làm sao có được sự thịnh trị của thái bình!.

Kính nghĩ: Thánh triều ta, đức Thái Tổ Cao Hoàng Đế thửơ đầu mở cuộc cách mạng khai sáng, đã lấy việc xây dựng nhà học, bồi dưỡng nhân tài làm nhiệm vụ hàng đầu. Các bậc vua thánh kế tiếp, đều kính cẩn noi theo, đặt khoa thi lấy kẻ sĩ, sắp đặt họ vào hàng thứ liêu, đã có quy mô xa rộng vậy. Nay Hoàng Thượng trung hưng, mở rộng quy mô, chăm chắm cầu mong thịnh trị, một lòng sửu dụng nhà nho, đến nay đã trải hai mươi tám năm, mở khoa đại tị lần thứ chín. Vào tháng 3 năm Đinh Mùi, niên hiệu Hồng Đức thứ18 (1487) bộ Lễ theo điển cũ, vâng mệnh sáng, thi Hội kẻ sĩ trong thiên hạ, chọn được số người ưu tú là sáu mươi người. Ngày bảy tháng tư, Hoàng Thượng thân ngự hỏi về đạo thịnh trị. Sau khi xem quyển lại cho vời số kẻ sĩ hạng ưu tú là sáu mươi người. Ngày bảy tháng tư, Hoàng Thượng thân ngự hỏi về đạo thịnh trị. Sau khi xem quyển lại với số kẻ sĩ hạng ưu vào cửa Nguyệt Quang, tự thâm xem xét, lấy Trần Sùng Dĩnh đỗ đệ nhất, thứ đến là Nguyễn Đức Huấn, thứ đến nữa là Thân Cảnh Vân, đều ban tiến sĩ cập đệ. Bọn Vũ Cảnh ba mươi người, ban Đồng tiến sĩ xuất thân. Sự lựa chọn ấy đã thận trọng lắm vậy. Ngày mộng bốn tháng năm nhà vua ngư điện Kính Thiên, truyền lô xướng danh, trăm quan mặc triều phục chúc mừng, treo bảng vàng ở ngoài cửa Đông Hoa, bàn dân thiên hạ chụm đầu ngắm xem, đều bảo rằng thánh triều văn minh, nhân tài nườm nượp, thực là cuộc gặp gỡ chân chính đời thịnh vậy. Còn việc ban cho ân sủng như vậy, cố nhiên đó là sự vẻ vang nhất thờ rồi, còn việc nêu họ tên khắc đá vàng mới là sự chói sáng mãi mãi. Lại mệnh cho bộ Công mài đá để tên và sai thần là Thân Nhân Trung chép lại việc đó.

Thần trộm nghĩ, nhân tài phồn thịnh vốn có quan hệ đến khí hóa của trời đất và cốt gốc giáo hóa của thánh nhân. Bởi vì có khí hóa của trời đất, thì chân nguyên hồi hợp. Gây dựng chứa chất, thì mới sunh ra nhân tài đông đảo như thế. Có sự giáo hóa của thánh nhân thì văn đức hun đúc, chan chứa dồi dào thì mới thành vẻ đẹp rực rỡ như thế. Khổng Tử nói: “Vào đời Đường Ngu, nhân tài rất thịnh, ấy là do khí chân nguyên hội hợp chăng?” Kinh Thi nói: “Nhân tài đời cổ không chẵn, nhiều kẻ sĩ có danh vọng. Ấy là do văn đức hun đúc nên chăng?”.

Đến ngày nay, khí hóa thuần thục, nên trị giáo tốt đẹp, góp sức xây dựng cùng trời đất, sánh vai đời Ngu Chu vẻ vang, nhân tài càng nhiều, khác hẳnthời trước, người giỏi thêm đông hơn hẳn thuở xưa, khiến cho thành tựu giáo hóa sáng ngời và chứng tỏ điềm lành của nước nhà vậy. Thế thì kẻ sĩ được nêu tên ở tấm bia đá này thật vinh hạnh biết bao! Và cố nhiên họ nên lấy trung nghĩa mà rèn luyện, cho danh thực hợp nhau thực hành điều sở học, làm nên sự nghiệp vĩ đại sáng ngời, khiến cho mọi người đời sau kính trọng thanh danh, mến mộ khí tiết, may ra trên không phụ công học tập thường nhật, thì việc khắc tên vào tấm bia này sẽ muôn thuở bất hủ vậy. Thảng hoặc chỉ tu sức văn vẻ bên ngoài, đức hạnh thiếu thốn bên trong, điều thấy không bằng điều nghe, việc làm trái với điều học, hạnh kiểm sa sút, danh giáo nhuốc nhơ, chỉ tổ bôi nhọ tấm bia này mà thôi. Không phải cái ý triều đình hi vọng ở kẻ sĩ quân tử, và cũng không phải là điều kẻ sĩ quân tử tự đối đãi với mình vậy.
Than ôi! Nhỏ học lớn hành, có chí học giỏi để góp cho đời, ai cũng đều như thế. Những người đời này, đời sau, sing ra ở cõi đời, đọc bài văn này, nhìn tấm bia này, chắc còn xúc động lắm! Tôi kính cẩn khắc bài văn vào tấm bia đá này, để tỏ lòng mai sau.

Phụng trực đại phu, Hàn lâm viện thừa chỉ, Đông các đại học sĩ. Tư chính thượng khanh, thần Thân Nhân Trung vâng soạn.
Mậu lâm tá lang, Trung thư giám điển thư thần Nguyễn Cẩn vâng viết.
Cẩn sự tá lang Kim Quang môn đãi chiếu, thần Nguyễn Nhân Huệ vâng khắc chữ triện.
Dựng bia ngày rằm tháng tám năm Hồng Đức thứ 18 (1487).

* *
*

“Hiền tài là nguyên khí quốc gia…”
Thân Nhân Trung
Danh nhân chính trị văn hóa

“Năm 1776 Bùi Huy Ích một danh nho đương thời đi qua làng Yên Ninh (nay thuộc xã Hoàng Ninh, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang). Quê hương Thân Nhân Trung đã ghé vào thăm, cảnh làng quê hoang vắng qua cơn mưa, trong nắng chiều hiu hắt Ônh đã làm bài thơ tỏ nỗi lòng nhớ vị danh nho mất đã gần 300 năm mà vị danh nho Thân Nhân Trung là người thầy chấm thi lấy đỗ cụ Tổ bảy đời của ông là Bùi Xuân Trạch 1478. Những bài thơ buồn nhất nói về gia cảnh Thân Nhân Trung: không còn dấu vết nơi thôn giã, đất cũ hoang tàn lạnh lẽo phai mờ trong mưa núi, mộ xưa đã mất giữa sương khói cánh đồng hoang. Các danh nho khác như Ngô Thời Nhậm, Phạm Nguyễn Du, Ninh Tốn, Võ Huy Tấn mỗi người làm 3 bài thơ họa lại đều ca ngợi tài cao đức trọng, danh giá vọng tộc một thời của Thân Nhân Trung với nỗi lòng thương tiếc bâng khuâng.

Cho đến những năm gần đây các nhà nghiên cứu Trung ương và địa phương tiếp tục tìm đến quê hương ông làng khoa Bảng Yên Ninh một làng có 10 Tiến sĩ mà ông là người khai hoa cho làng. Họ Thân cho con ông cháu 4 người, nếu kể cả chắt của ông là Thân Duy Nhạc là 5 người. Hy vọng tìm tư liệu ít nhiều nhưng chẳng còn di tích gid ngoài tấm bia nhà thờ Thượng Thư Hoàng Công Phụ. Khoản 15 năm nay Thân Nhân Trung được chú ý các nhà nghiên cứu tìm hiểu biên soạn về văn thơ cổ tư liệu Hán Nôm khoa bảng danh nhân từ trước đến nay vẫn viết về Thân Nhân Trung. Thân thế, sự nghiệp, tác phẩm của ông, thời đại ông đặc biệt là tấm bia đá đầu tiên do ông biên soạn dựng năm Hồng Đức thứ 5 (1484) viết về khoa thi Nhâm Tuất niên hiệu Bảo Đại thứ 3 (1442) đề cao tư tưởng “Hiền tài là nguyên khí quốc gia.” Văn bia vẫn còn ở văn miếu Quốc tử giám Hà Nội.” (Trích các bài phát biểu kỉ niệm 500 năm ngày mất của danh nhân Thân Nhân Trung năm 2000).

* *
*

Năm 1442 vị vua Lê Thánh Tông chào đời: Ông là một vị vua minh quân, ông lên ngôi năm 1460, mất năm 1497 thọ 56 tuổi, trong thời kỳ ông ở ngôi 38 năm thời kỳ này lịch sử Việt Nam đã công nhận “Nhờ Lê Thái Tổ nước Việt Nam mới còn, nhờ Lê Thành Tông hồn Việt Nam mới thịnh”. Thời kỳ hưng thịnh, nhân tài nở rộ nhờ chính sách chiêu hiền đãi sĩ đó là: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh rồi đi lên.” Lê Thánh Tông đã phát hiện và sử dụng hiền tài Thân Nhân Trung sau khi ông đỗ tiến sĩ kho thi Sửu năm 1469. Vào tuổi 51 gần 30 năm gắn bó với triều đại Thánh Tông ông đã lần lượt được giao những chức vụ cao và đều hoàn thành xuất sắc, được vua tin dùng: Hàn Lâm Viện Thị Đội, Hàn Lâm Viện Thừa Chỉ, Chưởng Hàn Lâm Viện sự, Đông Các Viện Họa Sĩ, Quốc Tư giám Tế Tiêu, Nhập Nội Chính Trị Mật Thám cơ chính Sư, lễ bộ thương thư, Lại Bộ Thượng Thư là Bộ cao nhất trong Lục Bộ: (Lại, Lễ, Binh, Hình, Công) dưới thời phong kiến Việt Nam.

Bộ Lại cũng là Bộ đào tạo, bố trí quan lại trong triều mà ông là đại thần trực tiếp chịu trách nhiệm. Nhớ bài thi đình đỗ trạng nguyên Nguyễn Trực năm 1442 vua Thái Tông ra đề:
- Vì sao Trẫm khó tìm được người tài? – Nguyễn Trực trả lời: Bởi mình tự chọn người là đạo làm vua nhưng tiến cử tài năng cho đất nước là các bậc đại thần. Bọn Hán Xão ngầm mưu gian ghen ghét tài cất nhắc bè lũ, bản thân chúng không ra gì là sao tiến cử người tài…”

Như vậy cho thấy các bậc đại thần có vai trò rất lớn trong việc đào tạo, sử dụng nhân tài, nhờ đó mà nguyên khí thịnh thế nước mạnh ở giai đoạn lịch sử triều Lê Thánh Tông. Bởi bản thân ông phải là người hiền tài, công minh chính trực mới làm tròn được chức trách của mình. Cuộc đời làm quan của ông may mắn gặp được vị vua trẻ anh minh, vua nhỏ hơn ông 25 tuổi. Nhưng đã chứng tỏ bản lĩnh của vị vua sáng minh quân.

Chính sử thần thời Lê Trung Hưng đã nhận xét Lê Thánh Tông bằng những lời nghiêm khắc và xác đáng như sau:
“Vua sáng lập chế độ, văn vật khả quan, mở mang đất đai, cõi bờ khá rộng, thực là bậc vua hùng tài đại lược, dẫu vũ đế nhà Hán, Thái Tông nhà Đường, cũng không thể hơn được. Những công trình thổ mộc vượt quá quy mô xứ, tình nghĩa anh em thiếu hẳn lòng nhân ái. Đó là chỗ kém vậy…” Ngược lại vị vua trẻ rất cần người tâm phúc hiền tài cận kề khuyên can khi vua sai lầm. Được cận kề bên vua, ông khiêm tốn là thơ ca ngợi Lê Thánh Tông “Vừa là vua, vừa là thầy”. Lúc vua mât ông thương tiếc Lê Thánh Tông làm thơ “Vừa là vua, vừa là bạn tri âm”.Nhưng thực ra trong lòng vị vua trẻ ở khía cạnh nào đó vua đã coi ông là một vị thầy. Lập hộ Tao Đàn vua là nguyên Súy, ông là Phó nguyên Súy. Với đạo đức của ông, tài cao học rộng của ông như tiến sĩ Hà nhậm đại (1526) đã ca ngợi ông: “văn chương trùm đời qủa là tay đại bút” và với kinh nghiệm sống thận trọng chắc chắn của ông nhà vua trẻ cũng hội được nhiều điều giúp nhà vua tránh được những sai lầm mà vua cha ông Lê Thái Tông ở tuổi ông đã mắc phải. Ông đã từng làm thơ nhắc nhở vua: ”Người ở ngôi cao phải luôn ghi nhớ: trị nước càng thịnh vượng, lòng càng phải thận trọng, càng phải lo cho dân chăm chỉ chính sự hàng ngày mơn mớn lo lắng”. Vua đã tín nhiệm giao cho ông viết văn bia giáo huấn để lại cho đời này, đời sau cũng là sự công nhận ông là bậc thầy vậy.

Theo qui định của thời Lê 65 tuổi đã là tuổi hưu trí, nhưng vị vua trẻ nhận thấy ở ông không chỉ ở tài thơ phú mà tài năng ở nhiều mặt. Càng ngày vua càng tín nhiệm ông càng giao cho ông trọng trách đến chức trách cao nhất rong triều. Khi vua Lê Thánh Tông mất 1497 thọ 55 tuổi. Vị vua kế vị còn giữ ông ở lại làm việc cho đến khi ông mất (1499) thọ 81 tuổi. Những bài ký tiến sĩ khoa Đinh Mùi niên hiệu Hồng Đức 18 (1497), bài Minh và lời tựa Chiêu Lăng của Lê Thánh Tông 1498 đều được ông viết năm 78, 79 tuổi được khắc bia đá. Lời văn sâu sắc, mang tính lịch sử và giáo dục cao, đã để lại cho đời sau một bài học bổ ích, ông đã làm việc tận tụy với vua với đất nước cho đến khi cuối đời.

Hiện nay, qua thăng trầm của lịch sử văn hóa dân tộc trên văn bia khoa Đinh Mùi 1487 ông tiên đoán: “Người đời này, đời sau khi đọc dòng chữ này chắc còn xúc động lắm”. Hiện nay các hội thảo tuyên dương những người đỗ đạt cao, lễ phong học hàm, học vị…đều tổ chức dâng hương ở văn miếu Quốc Tử Giám. Mong rằng bài văn bia ông viết, được viết thành tiếng Việt, tiếng Anh để trân trọng ở khu vực văn bia để những lời giáo huấn của ông đến với các sĩ tử, lớp trẻ và khách du lịch trong và ngoài nước hiểu thêm nền văn hiến nước nhà. Hiện nay ở quê hương ông đã có trường học mang tên ông, ở T.P. Hồ Chí Minh, quận Tân Bình có đường phố mang tên ông để ghi nhận một thời ông là một người thầy, một hiệu trưởng trường đại học quốc gia (Quốc Tử Giám Tế Tửu) đã sử dụng đào tạo thành công nhân tài làm hưng thịnh đất nước trong giai đoạn lịch sử Triều đại Lê Thánh Tông. Trong bộ “lịch triều hiến chương loại Chí” sử gia Phạm Huy Chú thế kỷ XIX không phải ngẫu nhiên xếp Thân Nhân Trung vào hàng người phò tá có công lao tài đức: Tên tuổi của ông đứng tề danh với tên tuổicác bậc danh nho khác của Quốc Gia Đại Việt như:
Tô Hiến Thành đời Lý, Mạc Đỉnh Chi, Trần Nguyễn Đán…đời Trần, Nguyễn Trãi, Nguyễn Trực, Lương Thế Vinh đời Lê. Đó là sự bình phẩm công bằng xác đáng.
Ông xứng đáng được tôn vinh là danh nhân chính trị văn hóa của đất nước.

Thân Thị Phi Ánh

Quay lại Trang chủ In ấn
» Thân Văn Nhiếp - nhà quân sự lỗi lạc vị quan cương trực, thương dân (10-06-2010)
» "Hiền tài là nguyên khí quốc gia" - Thân Nhân Trung (06-24-2010)
» Thân Công Tài với Xứ Lạng, Xứ Lạng với Thân Công Tài (06-21-2010)
» Phó bảng Thân Trọng Ngật (06-21-2010)
» Tiến sĩ Thân Trọng Tiết (06-21-2010)
» Thân Cảnh Phúc trong kháng chiến chống Tống (06-21-2010)
» Thân Cảnh Phúc - Một vị tướng tài (06-19-2010)
» Thân Trọng Phước và gia đình những gương mặt tri thức Huế (06-15-2010)
» Thân Trọng Huề một nhân vật lịch sử có tư tưởng canh tân, một nhà văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX (06-15-2010)
» Thân Đức Nam – Doanh nhân văn hoá (06-15-2010)
 
Thông báo nội bộ
CHƯƠNG TRÌNH KỶ NIỆM "1000 NĂM HỌ THÂN" TẠI BẮC GIANG
Nhân ngày giỗ tổ họ Thân hằng năm (29/10 â.l.), năm nay, 2010, tại Bắc Giang, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Giang, phối hợp UBND huyện Lục Ngạn và Hội đồng Thân tộc Việt Nam đứng ra tổ chức Lễ kỷ niệm “1000 năm họ Thân” tại tỉnh nhà. ... chi tiết
Thông báo số 3 (Tin mới)
Kỷ niệm “1000 năm họ Thân” tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội ... chi tiết
Lễ kỷ niệm
Kỷ niệm “1000 năm họ Thân” tại Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội ... chi tiết
Lễ kỷ niệm “1000 năm họ Thân”
... chi tiết
Hội đồng Thân tộc Hà Nội - 2010
... chi tiết
Liên hệ
Đóng góp / Phản hồi
Hội thảo dòng họ Thân
Hoạt động của dòng họ
Họ Thân với đất nước
Thông báo
Tổng truy cập: 355560
Đang xem: 1
 
 
 
 
 
 
 

© 2004 Họ Thân Việt Nam
Chủ nhiệm: Ông Thân Thêm
Điện thoại: +84 913425131 | Email: thanthem@gmail.com | thanthem@hothan.org
Website: www.hothan.org                                                                    Click vào đây để Quản trị nội dung (CMS)