Thân Trọng Huề một nhân vật lịch sử có tư tưởng canh tân, một nhà văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX
I. Thân Trọng Huề (1869 - 1925) tên chữ là Tử Trung, sinh năm 1869, quê gốc làng An Lỗ, huyện Phong Điền, đến ở tại làng Nguyệt Biều, xã Thủy Biều, thành phố Huế. Ông xuất thân từ một gia đình "hoạn thế", thuộc một trong ba "vọng tộc" (Thân, Đặng, Hà) của đất cố đô triều Nguyễn. Ông nội là Thân Văn Quyền (1771 - 1873) từng có 30 năm làm nghề dạy học mà được bổ chức Giáo thụ và thăng dần lên Tư nghiệp Quốc tử giám, Hữu Tham tri bộ Hộ, rồi Tả Thị lang bộ Lễ, bị phạt cách chức trảm giam hậu, rồi phải đi "Hiệu lực theo thuyền sứ sang Lucon"; sau đó được phục chức, được thăng Thự án sát Định Tường, cuối cùng là án sát Gia Định và mất tại đây, được truy thụ chức Bố Chính; cuộc đời "hoạn lộ" của ông thực gian truân! Thân sinh của Thân Trọng Huề là Thân Văn Nhiếp (1804 - 1872), đỗ thủ khoa kỳ thi Hương khoa Tân Sửu (1841), ra làm quan trãi hai triều vua Thiệu Trị, Tự Đức, với nhiều chức vụ quan trọng, đóng góp nhiều công sức cho đất nước, nhất là khi ông đang làm Tả Thị lang bộ Binh (1860) phải giao tranh và giao thiệp với thực dân Pháp.

Năm 1863, ông được bổ Hữu Thị lang bộ Lại, sung Tham biện Cơ Mật Viện, rồi thăng Thự Tả Tham tri bộ Binh, Hộ lý Tổng đốc Bình Phú. Ông từng dâng sớ cấm nha phiến đến ba lần nhưng vua không nghe theo; lại dâng sớ khuyên vua kiệm ước chi phí của công, chăm lo tự cường, tự trị và chống ngoại xâm. Năm 1869, ông được thăng Tổng đốc Bình Phú, rồi lâm bệnh và mất tại nơi làm việc vào năm 1872. Thân Trọng Huề còn có người anh rể là Trần Thúc Nhẫn, đậu Cử nhân, làm quan đến chức Tham tri. Năm 1883, khi thực dân Pháp tấn công thành Trấn Hải ở cửa biển Thuận An, ông đã cùng với một số tướng lĩnh và dân binh quật cường đánh trả quân xâm lược. Bấy giờ ông tuân lệnh triều đình cầm đầu phái đoàn thương thuyết với đối phương, nhưng sự bất thành, ông đã trẫm mình tuẫn tiết ở giang phận ngã ba Sình (điểm sông Bồ đổ ra sông Hương). Ngày nay ở cố đô Huế có một đường phố mang tên ông.

Thân Trọng Huề khi ông thân sinh qua đời, mới lên bốn tuổi, phải lưu lại sống ở quê mẹ tại Gia Định. Ông được Trần Thúc Nhẫn đón về Huế, ở với người anh cả Thân Trọng Trữ, được "ấm sinh" vào học Quốc Tử Giám.

- Năm 1888 (19 tuổi), Thân Trọng Huề thi Hương, qua được "đệ nhị trường". Liền sau đó (1889), ông được Nhà nước "Bảo hộ" chọn đưa sang Pháp học tại trường Thuộc địa nhằm đào tạo thành một quan chức của bộ máy chính quyền thuộc địa. Trong bảy năm học tập, qua các kỳ thi hạch, ông được các Giáo sư người Tây ngợi khen là thông minh, học giỏi và cuối khoá, thi tốt nghiệp, Thân Trọng Huề chiếm ngôi vị Thủ khoa.

- Năm 1895, ông về nước, triều đình chiếu theo lệ "Tiến sĩ" nước nhà đặc cách cho hàm Biên tu, vào Viện Cơ mật và sung chức Ngự triều thị thư, chưa được bao lâu (1896), ông bị quan Tiết chế Đại thần là Nguyễn Thân hạch tội và cách chức vì cớ "gặp quan mà không xuống ngựa"! Nhưng vua phê rằng:

"Ông là con nhà thế gia, chữ Hán chữ Tây đều thông hiểu. Muốn hỏi gì đều đáp được. Dẫu cách chức, nhưng cũng cho lệ vào Viện Cơ mật, phòng khi hỏi han việc gì"
[1].

- Năm 1897, ông được phục chức, sung vào Bang tá Viện Cơ mật liên tiếp thăng thưởng nhiều hàm vị cao cấp... và đến năm 1899 đã lên hàm Hồng Lô Tự Khanh; năm 1901 bổ An sát Khánh Hòa. Rồi năm 1902, "biệt phái" giúp Phủ Toàn quyền và được thưởng Thái Thường Tự Khanh.

- Năm 1903 về lại Huế, nhậm chức Tả Thị lang bộ Lại, sung Tham tá Viện Cơ mật. Năm 1904, ông được bổ làm Bố chánh tỉnh Quảng Nam. Tại đây, ông gặp phải vị quan đầu tỉnh là Tổng đốc Hồ Đệ không ưa, bị coi là "đồng sự khác lòng", "làm điều sai trái"... mà bị "giáng bốn trật và cho về nhà"! Ông đã gửi lên triều đình tờ trình biện minh rằng:

"Hạ thần trước đã gặp đại thần hẹp dạ, trong thành dạo ngựa mà bị hạch tội. Sau vì đồng sự khác lòng, vừa đến Quảng Nam, chưa kịp định vị đã bị biếm trích!... Người dèm pha, đố kị còn đó, khó yên phận ở Trung kỳ. Vậy xin cho hạ thần được lánh mình ra Bắc địa
"[2].

Thời gian đầu, sau khi ở Pháp học tập được nhiều kiến thức "Tây học", kiến văn được mở rộng, rồi về Huế, Thân Trọng Huề thường có tiếp xúc với một số nhân sĩ nho học tiến bộ như Phan Châu Trinh, Đào Nguyên Phổ... và chắc chắn là tư tưởng dân tộc - dân chủ của họ có ảnh hưởng đến ông và ảnh hưởng lẫn nhau. Các nhà yêu nước này ngay từ năm 1903-1904 đã sắp sửa phát động một phong trào "duy tân" ở miền Trung (do Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp...), hoạt động rầm rộ từ năm 1904. Và ông Hoàng giáp Đào Nguyên Phổ sau khi thôi làm quan ở Huế đã về Hà Nội làm báo Đại Nam Đồng Văn (1906) rồi trở thành một trong những nhân vật sáng lập và giảng dạy tại trường Đông Kinh Nghĩa Thục năm 1907.

Cũng chính thời gian đó (1905) Thân Trọng Huề đã kịp có mặt ở Hà Nội. Ông được cử làm Đốc giáo trường Sĩ hoạn, đào tạo các "quan chức mới" cho bộ máy chính quyền Nhà nước "Thực dân phong kiến" đã định hình.

Năm 1907, ông được phục hàm Bố chánh, bổ Án sát Bắc Ninh và rồi tiếp tục thăng tiến: Tuần phủ Bắc Ninh; án sát Hưng Yên, án sát Hải Dương. Năm 1914, là Tuần vũ, thành viên Phòng 4 Tòa Thượng thẩm Hà Nội. Năm 1915, thăng Tổng đốc sung vào Viện Thượng thẩm... và đến năm 1921, thăng Hiệp tá Đại học sĩ.

Trong khi làm quan tại các tỉnh, các viện, Thân Trọng Huề là người "liêm bình cần cán", nên mới được cất nhắc đề bạt nhanh chóng và đều đặn như thế. Nhưng ngoài ra, ông còn tích cực hoạt động trên trường "báo chí ngôn luận" của học giới nữa. Ông viết nhiều bài "chính luận", "xã thuyết" cho các báo Đông Dương tạp chí, Trung Bắc tân văn, nhất là Nam phong tạp chí, đề cập nhiều vấn đề văn hóa - xã hội - kinh tế v.v... Ông cũng là một trong những thành viên sáng lập và hoạt động trong Hội Khai trí tiến đức (1919) tức là một "hội đoàn" của "giới quan chức An Nam" cao cấp lúc bấy giờ. Những bài báo luận bàn thời sự, chính sách, học thuật của ông phản ánh tư tưởng, chính kiến của ông rất đáng được ghi nhận (ở phần sau, chúng tôi sẽ trình bày).

Phải thừa nhận rằng Thân Trọng Huề có uy tín trong giới quan lại, ông không chỉ là một "lương thần" mà còn là một vị "năng thần". 15 năm làm quan ở đất Bắc, ông đã làm nên nhiều việc "nổi đình đám". Cho nên, năm 1922, ông được điều về Huế sung Cơ Mật Viện đại thần, nhận lãnh Thượng thư hai bộ: bộ Học và bộ Binh, kiêm Đô Ngự sử Viện Đô sát. ở cương vị quan cao chức trọng, ông vẫn luôn nghĩ đến nước đến dân. Là Thượng thư bộ Binh, ông buộc nhà đương cục Pháp phải ký vào văn kiện lịch sử công nhận lãnh thổ Việt Nam bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (cách lãnh thổ đất liền hơn 300 dặm), cũng như trước đó (1918), khi chưa phải là Thượng thư bộ Học, ông đã phê phán Toàn quyền A. Sarraut mở trường Pháp chính, trường Cao đẳng mà "chỉ có sự giáo dục con trai, không có sự giáo dục con gái thì còn là khuyết điểm..."sự giáo dục chỉ riêng cho đàn ông, công lý có đâu lại thế?..."[3].

Thân Trọng Huề - con người và tính cách của ông - như ở bản "Gia phả họ Thân" biên soạn năm 1998 (do GS Thân Trọng Ninh cung cấp) đã trân trọng ghi chép về ông, tóm tắt như sau:

Tánh chất:
1. Thông minh, cả Hán văn lẫn Pháp ngữ đều thông thạo:
Từ nhỏ ông đã thông đạt Hán văn. Lớn lên qua Pháp học 7 năm. Pháp ngữ ông cũng nói năng trôi chảy, viết lách rõ ràng, minh bạch. Tuy hấp thụ văn hóa Tây phương, nhưng ông vẫn không quên nề nếp gia phong, lễ giáo của dân tộc mình.

2. Cương trực, trầm nghị, cao thượng, liêm khiết, chất tô, cần mẫn khó ai bì kịp:
a) Ghét Nguyễn Thân, tên gian tặc, thân Pháp quên nhà, ông không xuống ngựa chào, mà phải bị cách chức (do Nguyễn Thân quật mả Phan Đình Phùng, đốt di thể người anh hùng dân tộc).
b) Không chịu luồn cúi Tổng đốc Hồ Đệ mà bị giáng chức...
c) Ông dám nói những điều mà người ta không dám nói (Truyền thống của gia đình).

3. Yêu dân yêu nước:

Dù được vua Khải Định tin cẩn cho làm Đại thần Viện Cơ mật, dù được quan Khâm sứ Pasquier là bạn cũ nâng đỡ, nhưng ông không vì thế mà lợi dụng làm lợi riêng, trái lại luôn chăm lo cho dân, cho nước. Trong bài Biểu tạ ơn vua của ông, có đoạn viết:
"Bài vàng, mề đay đỏ, ơn vua, được thế là vinh. Ngồi, nghỉ, nằm không yên, lòng tôi thật quá thẹn! Biết mưu gì cho thiên hạ được nhờ, biết kế gì cho vua khỏi nhọc, biết lấy gì mà hú lòng dân thương nước, biết lấy gì mà chữa bệnh quan tham tiền...".

Ông cũng từng nói với con cháu: "Ta chiếm chỗ lớn là không để kẻ a dua tiếm vị làm điều hại dân hại nước. Ta lỡ mang ơn trọng của người (Pháp) nên khó có thể làm khác hơn, thôi thì theo phép trung dung mà khu xử mọi việc. Trước là không mất lòng họ, sau lại được việc cho dân. Nghĩ ơn vua lòng dân mà thẹn chưa báo đền được. Ôi thôi! Công việc khó thay!"

4. Cẩn thận, bình dị:
Bất cứ việc gì ông cũng dự trù, tính toán kỹ phần chuẩn bị, ghi vào sổ nhật kí để làm khỏi sai sót, luôn sắp đặt công việc có thứ tự hẳn hoi. Dù quan to nhưng ông rất bình dị, tiếp xúc với mọi lớp người trong xã hội. Bàn chuyện thì thấu đáo, nhắc nhở kỹ lưỡng, ban bảo nhiều lần mà không hề biết mệt. Lúc sắp mất, dặn con cháu phải chôn ngay trong vòng 24 giờ, không tổ chức linh đình lôi thôi.

5. Tiết kiệm:
Chi tiêu trong nhà, ông dặn nên tiện tằn, không phung phí xa hoa, để tiền mà giúp đỡ dân nghèo khó...
Ông mất tại bộ Học, thọ 57 tuổi, mọi người đều tỏ lòng thương tiếc, được vua truy thọ hàm Đông Các Đại học sĩ. Quan Hiệp tá Phạm Văn Thụ thay mặt triều đình viếng Ông đôi câu đối:
"Duyệt gia thặng, hữu cốt ngạnh phong, dương lịch tứ triều, tằng kỷ gian lao vong bạch phát;
Độc di biểu, giai huyết tánh ngữ, ái ưu nhất niệm, bất thăng thế lụy sái hoàng tuyền".

(Cốt ngạnh từ xưa đã sẵn, dầu thay mái tóc, theo đòi bệ ngọc bốn triều vua;
Ái ưu gần thác chưa nguôi, đành tỏ tấm lòng sùi sụt suối vàng ba mảnh giấy).

Báo Nam Phong có bài viết về "con người và sự nghiệp" của ông và kèm theo câu đối phúng:
"Đường đường đấng anh hào, mấy ngàn đầu xanh, lối cũ đi về vì việc nước;
Bời bời lòng cố quốc, một cung gió thảm, cảo thơm lần dở khóc người xưa".

Hội Khai trí Tiến đức cũng đưa câu đối:
"Đời mấy kẻ anh hùng, nô nức gần xa người một hội;
Cuộc trải qua dâu bể, than ôi! tan hợp cõi trăm năm".


Học giả Phạm Quỳnh, trong bài viết trên Nam phong số 96 (1925) tỏ lòng xót xa vì mất đi một "đồng nhân trong báo quán", tri ân người đỡ đầu tờ báo "buổi sơ sinh" và là "người bạn thân khi trưởng thành", đã vinh danh ông bằng những lời thắm thiết:
"Cụ là một người cương trực, khảng khái, một lòng ái quốc trung quân, mà ở đời này những người trung quân ái quốc, khảng khái cương trực lại rất ít, cho nên một đời cụ làm quan đã gặp nhiều phen tỏa chiết. Bị tỏa chiết mà cái chí vẫn cương cường, kẻ trí thức phục cụ là người "cứng". Phường danh lợi thời lại chê cụ là người "vụng", vì "cứng" mà nên "vụng". Nhưng ở đời này thiên hạ chỉ lấy cái tiểu xảo mà khuynh loát nhau, khôn là biết nịnh tài, khéo là kiếm tiền giỏi - thời chê ấy há lại không phải là lời khen đích đáng sao? Lại người đời đều mềm cả - mềm cho đến nỗi không còn khí phách gì nữa - mà một mình cụ cứng, há lại chẳng đáng phục ru?".

II. Thân Trọng Huề, như ta đã biết, xuất thân từ một gia đình quyền quý, dòng dõi thế tộc; được thụ hưởng Nho học từ truyền thống lâu đời của cha ông. Ông lớn lên, khi đất nước đã bị thực dân Pháp xâm chiếm, chế độ thuộc địa bảo hộ đã "ổn định" và đang muốn thống trị lâu dài nhân dân đất nước ta. Do đó mà chính quyền thuộc địa muốn có một lớp quan lại tay sai mới được đào tạo có bài bản hơn để thay thế. Thân Trọng Huề vốn là một người thông minh, lại là "con nhà quan", nên được chọn đưa sang Pháp học thành tài và trở về nước năm 1895, ở tuổi 27. Ngay lúc mới về, tháng 9-1895 ông đã viết thư cho Toàn quyền Đông Dương nói:
"Dù tương lai của tôi có sao đi nữa, tôi vẫn sẽ làm việc hết lòng hết sức, hầu đóng góp phần nào cho Chính phủ Bảo hộ và cho Đất nước tôi"[4] .

Những năm tháng đầu của cuộc đời "làm quan" ở Huế, rồi ở Quảng Nam, Thân Trọng Huề đã đụng đầu, đã không ăn ý với các vị quan như Nguyễn Thân, Hồ Đệ, nên ông đã bị "đàn hặc", bị "biếm trích" phải "về vườn"! Những vấp váp nặng nề ấy phải chăng là ở ông có những ý kiến, ý tưởng mới... trong lúc hành xử việc quan và việc đời? Tài liệu thành văn (liên quan đến ông về những vụ việc này và liên quan thời gian gian ông làm quan ở Huế, Quảng Nam) không có nhiều, nên thật khó biện biệt phải trái. Còn như ở thời gian từ 1905 về sau (ở Bắc rồi về Huế), những việc làm của ông là khá rõ, có tương đối đầy đủ cứ liệu xác thực. Sau này, khi ông mất, Điếu văn của Khâm sứ P. Pasquier đọc ngày 9/9/1925 đã ghi nhận:
"Ông là người chỉ biết có trung thực, người không hề tính toán nhỏ nhen, mà chỉ thật lòng hành động vì điều tốt đẹp, vì lẽ công bằng.
... Ông đã đóng góp vào việc thực hiện những cải cách ở xứ Bảo hộ.
Ông tham gia tổ chức lại ngành tư pháp. Là cố vấn ở Phòng 4 Tòa Thượng thẩm Hà Nội, công việc của ông được các quan chức ngành Tư pháp đánh giá cao.
Ông quan tâm đến các vấn đề kinh tế, một thời gian dài ông phục vụ ở Phòng Nông ngihệp Bắc Kỳ và chuyên chú vào những công trình lợi ích chung...
Ông có vai trò tích cực trong ủy ban Bắc Kỳ của Hội liên hiệp Pháp văn.
Năm 1916, vua Khải Định đăng quang, ông có cơ hội gần triều đình hơn. Tuy là chú của vua (vợ ông con Kiên Thái vương tên là Như Sắc - em gái của 3 vua Kiến Phúc, Hàm Nghi và Đồng Khánh), ông không bao giờ xao lãng vai trò của một vị quan cố vấn trung thành và vô vụ lợi.
Mọi người thấy ở Ông có những đức tính lương thiện và trung trực, như lời Khổng Tử khi nói một tôi trung phục vụ quân vương thì phải "không được dối vua, mà lại không ngại nói nghịch ý vua".


Mọi người đều biết ông là người luôn luôn hòa nhã, luôn luôn minh bạch trong quan điểm của mình... Ông biết cách và ưa thích tranh luận, thường đưa ra những giải pháp có khi làm ngạc nhiên các bạn đồng sự, bởi những giải pháp này mang dấu ấn từ bên ngoài của quan niệm mới mẻ ở Việt Nam. Ông tin tưởng cần thiết phải canh tân đất nước, phải dần dần nới lỏng những ràng buộc cổ hủ cản trở bước tiến của nó. Ông thấm nhuần tư tưởng của Khổng Tử: "Nhật tân, nhật nhật tân", nhưng ông cũng không quên sức mạnh hãy còn lớn của những truyền thống tuy về bản chất là tốt đẹp, nhưng thường thường chỉ còn tồn tại như những giải băng cột chặt người nước Nam" [5].

Những nhận định, đánh giá con người và tư tưởng Thân Trọng Huề trên đây của P. Pasquier - Quan Khâm sứ Trung Kỳ (1925) và sau này (1930...) là Toàn quyền Đông Dương chống Cộng sản khét tiếng - dù là của một viên quan thuộc địa, có cảm tình và nhận là "bạn" của Thân Trọng Huề, vẫn có thể cho ta một cảm giác: đó là sự đánh giá tương đối khách quan và thỏa đáng.
Mặt khác, góp vào việc "nhận định, đánh giá" Thân Trọng Huề, các "tư liệu thành văn", các trứ tác (các bài chính luận, xã thuyết...) của ông cũng phản ánh "tư tưởng canh tân đất nước" khá rõ.

Bài Con đường tiến bộ của nước ta đăng trên Tạp chí Nam Phong (số 8 và 9, 1918) có thể coi như một "đề cương của chương trình canh tân đất nước" mà ông từng suy ngẫm, nay nhờ có một cơ quan ngôn luận công khai, ông mới có điều kiện công bố. Điều đáng chú ý một cách thú vị là: ông viết nguyên văn bằng chữ Hán (hẳn là để cho giới sĩ phu, quan lại nho học đọc) và lại do cử nhân Hán học (một nhà nho cấp tiến, một yếu nhân của phong trào duy tân và của Đông Kinh nghĩa thục, từng bị đày Côn Đảo) dịch ra tiếng Việt để cung hiến "chư độc giả thức thời". Bài này ông không viết bằng tiếng Pháp để cho "các quan Bảo hộ" đọc. Với tư cách một người có trình độ học vấn, khá thông hiểu "truyền thống văn hóa dân tộc, văn hóa Trung Hoa cổ đại" cộng thêm cái thực học ở trường Thuộc địa, cái kiến văn mới mẻ hấp thụ được của văn minh phương Tây, Thân Trọng Huề trình bày thực trạng yếu hèn, lạc hậu của đất nước ta về đủ mọi phương diện kinh tế, văn hóa, giáo dục... Vậy muốn tiến bộ, cần phải chú trọng bốn điều cốt yếu:

1. Người dân trong nước có nghị lực (cũng có nghĩa là phải có bản lĩnh tự lực, tự cường...).
2. Đất cát trong nước tốt (phải biết cách khai thác nguồn lợi thiên nhiên sẵn có).
3. Công nghệ trong nước thịnh (xây dựng phát triển khoa học kỹ thuật).
4. Giao thông trong nước tiện lợi.

Trong bốn điều ấy thì "nghị lực người dân" là quan trọng nhất. Vì có nghị lực thì mới chế thắng được mọi trở lực của thiên nhiên mà khai thác và lợi dụng được của cải của tạo hóa ban cho. Cứ xem gương nước Mỹ, nước Nhật Bản trước kia chẳng qua là chốn rừng hoang, đảo vắng, mà nay không đầy vài trăm năm sau đã thành những nước mạnh giàu bậc nhất trên thế giới. Còn như nước ta, xét trong lịch sử "cũng là một dân tộc thượng võ, mà nuôi thành cái tính thượng võ ấy là bởi tại cái địa thế nước ta". Một đất nước từng "phạt Tống, bình Chiêm" thắng lợi, "coi thế thì người nước ta sánh với người các nước khác ở Đông Dương này, còn có nghị lực hơn nhiều. Nếu được người xướng suất, có thể lợi dụng cái nghị lực ấy mà làm nên công to việc lớn gì cũng nổi...". Nếu "chỉ chịu để người ta sử linh thì được, mà chưa có tài kinh lý lấy, chắc có một cái cớ gì?! Ta xin nói quyết rằng: Tại người ta không biết cách tổ chức.

Ông nhấn mạnh:
"Tiếng Tổ chức bây giờ tức là tiếng Kỷ cương ngày xưa, nghĩa là xếp đặt đâu ra đấy, có thứ có lớp vậy. Phàm tổ chức một việc gì, trước hết phải có một cái mục đích, lại phải biết suy xét đường hơn lẽ thiệt, mà phải có thêm cái lòng kiên nhẫn. Đã có một cái mục đích rồi, mới tính cái phương pháp làm thế nào thì lợi, thế nào thì hại, chọn cái nào thật có lợi mà không hại, thì cứ thế mà làm; lúc đương làm rủi gặp sự gì ngăn trở thì lấy cái lòng kiên nhẫn, cố làm cho kỳ được mới thôi. ấy là sự yêu cầu nhất trong cách tổ chức. Vả lại, tổ chức việc nước cũng chẳng khác gì tổ chức việc nhà. Nước ta hơn 31 vạn km2 đất, hơn 14 triệu dân. Lấy dân ấy kinh lý đất ấy, mà dắt nước ta lên con đường tiến bộ, tổ chức việc nước ta, tất phải lấy điều ấy làm cái mục đích thứ nhất, mà muốn đến được chỗ mục đích ấy, phương pháp làm, tất phải mở trí dân. Nghĩa là kiếm phương dạy dỗ, tài bồi cái nghị lực của người nước ta sẵn có vậy".

Về việc giáo dục mở mang dân trí, đào tạo nhân tài, Ông cho rằng "việc cải lương việc học, lập Hội đồng Giáo dục" như của Toàn quyền Beau năm 1906 là chưa đủ, là chỉ "mới nghĩ sự giáo dục phổ thông, mà chưa kịp nghĩ sự giáo dục nhân tài". Và ngay đến thời Toàn quyền A. Sarraut tuy có mở rộng việc đào tạo ở các cấp Trung học, Cao đẳng..., "nhưng con gái vẫn không được chú ý đào tạo là vẫn còn khuyết điểm". ở điểm này, ông có một tư tưởng "nam nữ bình quyền" khá tiến bộ. Ông phê phán quan niệm cổ hủ của "sáo ngữ sách Tàu" cho rằng "phụ nhân nan hóa", coi "đàn bà là một giống phụ thuộc đàn ông mà không nghĩ đến phương giáo dục". Ông nói: "Đàn bà nước ta, có phải chỉ để lo bề bếp núc mà thôi đâu; có kẻ ruộng nương, có kẻ buôn bán, có kẻ làm thợ làm thuyền (tiểu thủ công kỹ nghệ...), không kể còn phải cái trách nhiệm riêng coi sóc việc nhà, chăn dắt con cái, mà phàm những việc đàn ông làm, đàn bà cũng làm được cả. Vậy mà sự giáo dục chỉ riêng cho đàn ông, công lý có đâu lại thế? Huống chi số con gái thường vẫn nhiều hơn số con trai, trong hơn 14 triệu dân ta, có khi đến trên 9 triệu đàn bà, không được giáo dục gì, thực là đáng tiếc quá!"

Về các vấn đề khai thác tài nguyền, xây dựng công nghệ, Thân Trọng Huề cũng có những nhận định đánh giá thực trạng yếu kém và đề ra biện pháp thực hiện (bắt chước các nước tiên tiến). Đó là những người, những nghề làm ra của cải vật chất, làm cho nước nhà thịnh vượng, "chứ không phải cái nghề đua nhau vào quan trường mà cho đó mới là tôn hiển nhất và có lợi nhất!" Vì rằng: "phàm nước nào được thịnh vượng là cốt tại công, nông, thương, các nghề phát đạt".

Để thúc đẩy công cuộc canh tân, làm cho nước nhà tiến phát nhanh, ông nhấn mạnh vấn đề phát triển giao thông vận tải, vì "đường sá quan hệ đến quốc thế nhiều": - Đi lại thuận lợi sẽ rút ngắn thời gian; - chuyên chở lưu thông hàng hóa nhanh chóng; - Đường bộ, đường thủy sẽ rất tiện cho việc xuất cảng sản vật, kể cả cái lợi "trao đổi, bắt chước" người ta mà làm, mà tiến bộ. Danh ngôn Pháp có câu: "Nếu không muốn bắt chước người, không lo bằng người, không mong hơn người, thì không thể nào tiến bộ được". Điều này thì đức Khổng Tử cũng từng nói: "Thấy người hiền lo cho bằng người ta, thấy người không hiền mà xét xem mình có như thế không". Hoặc: "Ba người cùng đi, ta lấy hai người kia làm thầy ta được. Người hay thì ta theo như họ, người không hay thì ta đừng làm như họ...".

Kết thúc bản "đề cương canh tân nhằm đưa đất nước lên đường tiến bộ", một lần nữa, Thân Trọng Huề nhấn mạnh:
"Ôi! Đất nước ta hơn ba mươi vạn km2, không phải là không tốt; dân nước ta hơn 14 triệu, không phải là không nghị lực! Cái nguyên tố lập quốc, đã được hai thứ tài liệu quý báu thế... sao không tổ chức việc sinh kế mình để nước nhà trở nên thịnh vượng? Chắc dân ta phải đợi có người xướng suất. Phải chăng là trông ở bọn quan trường ta? Vậy thì trước hết quan giới phải cải lương, phải cố học cho bằng người, phải nên cầm chí cho bền, gắng công phu bách bội, làm sao cho đạt được mục đích mới thôi".

III. Tìm hiểu tư tưởng canh tân của Thân Trọng Huề, chúng ta chú ý đến thời điểm năm 1916, khi Khải Định đăng quang, ông đã là Tổng đốc sung vào Viện Thượng thẩm và đến năm 1922, về Huế sung Cơ Mật Viện đại thần, nhận lãnh Thượng thư hai bộ Học và bộ Binh, kiêm Đô Ngự sử Viện Đô sát, như vậy ông đã là "Cố vấn tối cao" của nhà vua. Ông được coi là một vị đại quan trung thành, vô vị lợi và là một người trung trực "không ngại nói lời nghịch ý vua". Cho nên trong bài Cung dịch thánh ý đăng trên Tạp chí Nam Phong số 50, tháng 8 - 1921, khi diễn dịch ý vua (hay chính là tư tưởng của chính ông?) về bốn điểm: Kính Bảo hộ, tôn Quân quyền, khai Dân trí và quảng Dân tài, thì ông có ý giải thích lướt qua "cái chủ nghĩa Pháp - Việt tương thân là nội dung chính của kính Bảo hộ". Ông nhấn mạnh:
"Người nước mình muốn thân với người Pháp, thì trước phải tu thân, bởi vì tu thân không phải là cái bùa riêng của Pháp - Việt tương thân, mà là cái bùa chung của Âu - á tương thân... Hoàng thượng ban "Kính Bảo hộ" là kính mà thân, chớ không phải kính mà xa, mà người mình phải kính mình làm trước".

Còn vấn đề Tôn quân quyền, ông dẫn lịch sử Việt Nam, từ năm 1884, sau Hiệp ước 6/6/1884, vua đã nhận nước Pháp bảo hộ! Đến lời Dụ 25/7/1897 triệt bỏ Nha Kinh lược Bắc Kỳ giao quyền nội trị cho Thống sứ, và lời Dụ 24/9/1897 triệt Phủ Phụ chánh ở Huế cho vua, nhưng phàm việc gì Cơ mật và các Bộ phải thương với quan Khâm sứ ở Kinh rồi mới được tâu! Còn quyền lập pháp và quyền thần quyền chỉ là quyền ban sắc cho các ông thần và quyền phong tặng cho những người chết ở trong lưỡng kỳ thì vua ta vẫn giữ!!

Dân mất nước vua cũng mất quyền. Việc "tôn quân thận thương" và cả một hệ thống quan chức Nam triều chẳng còn ra cái thể thống gì nữa! Ông đã không ngại ngần gì mà không vạch rõ thực trạng. Hàm vị, chức tước hết sức lộn xộn:
"... Thuở trước ít Đại học sĩ, cho nên tiếng Đại học sĩ quý lắm, bây giờ Đại học sĩ nhiều: Đại học sĩ ở triều, Đại học sĩ ở tỉnh, Đại học sĩ ở thành phố, Đại học sĩ ở nhà quê! Từ mấy năm nay văn chương suy đồi hơn trước mà Đại học sĩ lại nhiều hơn xưa!
Thượng thư là hàm của các quan Bộ trưởng, trung đẳng thanh giá, quý biết dường nào! vinh biết dường nào! Bây giờ các quan Bộ trưởng đều hàm cao hơn Thượng thư, để mấy hàm ấy cho mấy quan Tham tri và Tuần vũ đương chức, hay là ban cho Tham tri, Tuần vũ về hưu, cho nên bây giờ vào đất Trung Kỳ mà nhất là ở Huế, thấy Thượng thư cùng cả: quan Thượng ở trong Bộ, quan Thượng ở ngoài phố, quan Thượng thung dung đi đất, quan Thượng đủng đỉnh trên xe, quan Thượng đi xem đồng, quan Thượng đi câu cá...!".


Theo Thân Trọng Huề:
"Tôn quân quyền là tại dụng nhân, hễ có nhiều người giỏi thì việc chi cũng xong, quốc bộ càng ngày càng đi tới, mà quân quyền tự nhiên tôn". Vậy thì "dùng người ở đâu?".
"- Không phải người ngoại quốc mà là những người nước ta được học hành chu đáo, có kiến thức tân học, lại biết việc nước nhà, phải học tập chánh sự Trung Kỳ ít lâu, rồi mới làm việc quan trường được. Quan trường "phải sửa lại" thì mới mong tôn quân quyền".

Ở bài Cung dịch thánh ý này, tác giả chú trọng nhiều hơn ở hai vấn đề Khai dân trí và Quảng dân tài.
Muốn Khai dân trí, trước hết phải biết hiện tình dân trí thế nào rồi mới tìm cách khai hóa được. Nước ta trình độ dân trí đã quá thấp kém, lại từng bị cái "cựu học" làm cho trì trệ, sút kém.

"Lúc trước, người nước ta chỉ học văn chương, triết lý, không biết cách trí; trọng lý tưởng, ít trọng thực hành, lấy ngũ kinh tứ truyện làm phạm vi hơn 2000 năm, tư tưởng của người nước ta cũng như tư tưởng của người nước Tàu, không ra khỏi cái phạm vi kinh truyện; phạm vi ấy tuy đẹp, nhưng mà của một dân tộc Trung Hoa có bề cao mà thiếu bề rộng! Việc học bây giờ lấy tư tưởng của các nước văn minh đời xưa, đời nay làm phạm vi, gồm cả văn chương triết lý và cách trí, gồm cả lý thuyết và thực hành; cái phạm vi của học giới bây giờ đã cao mà lại rộng; người nước ta có sức muốn đi đến đâu cũng được, tưởng không ai cấm, tưởng không ai ngăn. Khi nào trong các Hội những người thông thái thế giới có người nước ta dự vào, thì khi ấy là khi kết quả hoàn toàn của sự học mới. Đến khi trong nước đã có người thông thái sánh vai được với người thông thái của các nước văn minh, thì cái ánh sáng văn minh đã thấu đến các xưởng làm công, các nơi làng mạc, mà những người làm thuê và trai cày biết đọc, biết viết, không còn dốt nát như bây giờ. Thời kỳ ấy tưởng còn xa, nhưng không phải không đến được".

Muốn đạt được sự khai hóa, tiến bộ kịp các nước văn minh, thì việc học tập theo hệ thống giáo dục từ sơ học, trung đẳng đến cao cấp đều phải có chương trình, sách giáo khoa, chuyên ngành chuyên khảo v.v... phải theo sát trình độ học vấn của từng cấp, "phải biết rõ cái cơ sở của xã hội nước ta ở đâu, rồi mới lo mà bồi bổ cái nền ấy được". Tóm lại:
"Khai dân trí là mở trí khôn của dân theo một phạm vi mới đã cao lại rộng... khiến cho người dân trong nước biết tu lòng trung hiếu để mà bồi bổ cái cơ sở của xã hội nước nhà ngày càng bền vững".

Quảng Dân tài là mở rộng của cải của dân, làm cho dân giàu, làm cho có nhiều tiền để ăn ngon, mặc tốt và nhà ở đẹp. Vì rằng:
"Người trong thiên hạ đều lo ba sự ấy, là ăn, mặc và nhà ở. Ấy là ba điều cần nhất của loài người, ba điều ấy chiếm một phần to trong lịch sử văn minh của thế giới".
Hiện giờ dân nước ta còn nghèo khổ, đói cơm rách áo. Vậy nghĩa vụ của Chính phủ là phải lo cho dân ăn no mặc ấm, rồi tiến lên ăn ngon, mặc đẹp, nhà ở tốt... Các nhà kinh tế phải lo làm cho tốt ba điều: mở cái giá trị của người, mở cái giá trị của đất và lập phương pháp kinh tế (moyens économiques), nghĩa là lập những phương pháp làm ăn cho tiện. "Người là một cái tư bản quý nhất trong một nước". "Phụ thiên mẫu địa", nghĩa là cha là trời, mẹ là đất.

"Đất là mẹ thì đất nuôi người, nhưng mà đất để cho tự nhiên sinh sản thì không nuôi nổi người, phải bắt nó sinh sản cho nhiều của cải, ấy là phần nhà canh nông; hóa các thứ thổ sản làm đồ ăn đồ dùng, là phần nhà kỹ nghệ; mậu dịch các thứ thổ sản và các đồ chế tạo là việc nhà thương mại. Kỹ nghệ thương mại nước ta chưa phát đạt là tại canh nông của nước ta chưa mở mang. Nếu mình có sản vật nhiều và tốt, mà người mình không thể làm, thì mời người ngoại quốc (chuyên gia) đến làm, rồi người nước mình cũng nhân đó mà được lợi... Tuy có người khoẻ, tuy có đất tốt mà không có phương pháp kinh tế thì nước ấy không thịnh vượng được".

Phương pháp kinh tế, còn bao gồm cả đường sá, hỏa xa, hỏa thuyền, nhà giây thép, nhà ngân hàng v.v..., đều là những phương pháp để làm ăn cho tiện. Lý luận về sự làm giàu là như vậy, nhưng tác giả nhấn mạnh vào điều kiện thực hiện rằng:
"Chính phủ chỉ biết lập những phương pháp kinh tế, còn lợi dụng những phép ấy là tại nhân dân và muốn lợi dụng phương pháp ấy phải có tự do - Tự do đi lại trong xứ Đông Dương hay là ra ngoại quốc phải được tiện lợi hơn trước".

Rồi nữa:
"Vậy thì sửa sang việc Tư pháp, có đủ phương pháp để mà bảo hộ lợi quyền cho dân, cũng là một cách giúp sự sinh tài trong nước". "Nói tóm lại: quảng dân tài là khai trương cái giá trị của dân, khai trương cái giá trị của đất và tổ chức việc làm, mà nhất là sửa luật lệ thế nào cho dân được tự do làm ăn".

Có thể nói rằng, Thân Trọng Huề, qua bản Cung dịch thánh ý đã tỏ ra rất tâm huyết với quyền lợi của nhân dân đất nước, đã nhân danh "thánh ý" để trình bày những tư tưởng canh tân của mình. Bản văn này có ý nghĩa như là bổ sung cho bài Con đường tiến bộ của nước ta đã đề cập ở phần trên.

IV. Ở mấy phần trên, chúng ta đã tìm hiểu, khảo sát tư tưởng canh tân của Thân Trọng Huề thể hiện qua hai "văn kiện" quan trọng. Văn kiện thứ nhất "Con đường tiến bộ của nước ta", có ý nghĩa như một bản "đề cương" chung. Văn kiện thứ hai "Cung dịch thánh ý", ông đã bắt đầu chỉ ra những vấn đề cốt yếu cần cải cách. Tiếc rằng, chúng tôi chưa có trong tay hai trứ tác - có thể là có tầm quan trọng hơn -, tức: Học luật lệ An Nam và Phép cai trị An Nam để đi sâu nghiên cứu và khái quát tốt hơn tư tưởng của Ông. Tuy vậy, chỉ với số "tư liệu" có được hiện nay (phần lớn đã đăng tải trên Tạp chí Nam Phong), chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy, ở Thân Trọng Huề, từ rất sớm, - khi mới tốt nghiệp trường thuộc địa - đã xác định xu hướng hành xử của mình trong cuộc đời làm quan, nối nghiệp cha ông, giữ trọn đạo trung hiếu với nước với dân. Theo dõi "sự nghiệp" của ông, quả thật đã rất đúng với lời phát biểu của ông M.Rheinart lúc ông khởi hành từ Pháp trở về:
"Ông đã học tập có kết quả, ông đánh giá sáng suốt tình hình đất nước mình, đề cập đến những vấn đề kinh tế một cách hiểu biết, hiểu được sự cần thiết phải cải tổ, nhưng với tinh thần trong sáng, ông cảm nhận rõ ràng là cần hành động có phương pháp, chừng mực, thận trọng không thô bạo. Ông thấm nhuần tình cảm đoàn kết gắn bó hai nước chúng ta và, tuy vẫn trung thành với Tổ quốc mình, ông sẽ phục vụ cho lợi ích chung của chúng ta".
Đây là một lời dự đoán và cũng là một sự xác nhận như đã được "bảo hiểm" về tư cách con người, tư tưởng và sự nghiệp của Thân Trọng Huề vậy.

Hơn ai hết, từ trước khi dấn thân vào chốn quan trường, Thân Trọng Huề đã có bài học xương máu của ông và cha mình truyền lại. Các vị tiền bối của mình đã chẳng lấy gì làm thành đạt, nhưng tấm gương về nhân cách, đạo đức vẫn là "truyền thống tốt đẹp" đáng tự hào của gia đình họ Thân. Ông lại "sinh bất phùng thời" vào đúng giai đoạn mà nước đã mất, vua và dân đã không còn quyền, đã phải chấp nhận sự "bảo hộ của Đại Pháp!" Lúc này các cuộc chống Pháp cần vương đã dần dần bị chính quyền thực dân đàn áp, tiêu diệt. Nhiều nhân sĩ trí thức nho học đã buộc phải chấp nhận cộng tác với Nhà nước Bảo hộ theo từng mức độ khác nhau, trong số đó có không ít người ôm ấp ý nghĩ "chờ thời" hoặc "tương kế tựu kế" mong được đền ơn đáp nghĩa phần nào cho dân cho nước. Thân Trọng Huề được xếp vào thế hệ "khoa cử nho học" dở dang, nhưng lại đã kịp thời "hấp thụ tân học" lớp đầu tiên để rồi tiếp nối "con đường làm quan" trong hoàn cảnh lịch sử mới. Ông đã nói rõ điều ấy:
"Nước ta nguyên trước là một nước tự chủ mà kể từ 1884 đổi làm Bảo hộ là giảm quyền của vua ta... Việc ấy đã vào sử giới rồi (tức đã là chuyện thuộc về lịch sử) không cần bàn nữa. Và sau hai lời Dụ (1897), càng giảm quyền của vua ta, và cũng đã vào sử giới rồi, tưởng cũng không cần bàn nữa!"[6].

Vậy phải làm gì đây? và sẽ có thể làm được những gì có kết quả? Và ông đã chọn: ở cương vị một ông quan của quan trường Nam triều để "chấn chỉnh quan trường", để "bảo hộ quan trường" (tức bảo vệ danh giá của quan trường), để nêu "quan giám" (tức là nêu cái gương của nghề làm quan). Ba vấn đề trên được Thân Trọng Huề chọn làm mục tiêu của việc canh tân chế độ hành pháp đương thời.

Để Chấn chỉnh quan trường, trước hết ông mạnh dạn - đúng hơn, dũng cảm - vạch trần sự thối nát của quan trường lúc bấy giờ. Đó là tệ thamnhũng, ăn của đút lót lễ lạt của dân, đã thành một "lại tệ", ông cho đó là một thứ "ăn cướp" mà dân gian đã truyền ngôn:
Than ôi! sinh buổi đời này,
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan!

Các quan được mệnh danh là "cha mẹ dân" mà bị coi là giặc cướp thật xấu hổ biết chừng nào! Quan trường nước ta bị nhục đến thế là cùng! Tệ nạn quan tham lại nhũng này cũng từng bị báo chí phanh phui. Thân Trọng Huề dẫn câu của báo Avenir du Tonkin ngày 31/5/1917: "Một tên đầu đảng ăn cướp, ăn cướp một đời không bằng một ông quan lấy tiền của dân trong một năm!". Ông cũng trích một câu trong bài xã thuyết của báo Hải Phòng:
"Người An Nam, cái tệ hối lộ không phải tệ riêng của bọn quan trường, tệ ấy đã thành tập tục cả nước. Dân mất tiền cho quan không lấy làm ca thán, tuy quan muốn lấy tiền của dân, mà dân cũng muốn đem tiền lễ quan, cho là việc gì đến quan cũng phải tiền mới được, tự trên chí dưới, quan lấy làm thường, phải đợi ngày nào việc học mở mang, phong tục cải lương hết, quan dân đều giữ phong thể cả, may ra tệ ấy mới trừ được chăng?"[7]).
Ấy thế mà các quan ta chỉ mỉm cười: "Nhật báo nói chi thì nói, mặc kệ chúng nó, ai kể lời nói của họ ra chi!" v.v...

Ông cho rằng: "Cái sự đi lễ quan là cái mồi dẫn cho sự tang hối (tệ ăn của đút lót). Muốn trừ sự tang hối thì trước phải trừ khử tệ đi lễ các quan”. Ông biện luận thật cụ thể mà sinh động:
"Dân đến hầu quan, quan nhỏ đến yết kiến quan lớn mà phải đem lễ vật là tại lẽ gì? Để mà tỏ lòng kính như đem lễ vật mà cúng tế quỷ thần chăng? Nói như vậy không chính xác, bởi vì cúng quỷ thần, lễ vật có nhất định, đem vật khác thì không phải lễ. Vả lại, cúng quỷ thần rồi mình dùng đồ lễ ấy được, chứ như cúng cho các quan thì mất hẳn đi! Có kẻ nói rằng đem lễ cho các quan để làm vật kỷ niệm, nhưng có vật không làm kỷ niệm được, như gà gạo, rượu chè, ăn rồi thì mất tích. Cái vật mà các quan thích hơn là bạc đồng và bạc giấy, hai món ấy lại khó làm vật kỷ niệm hơn, bởi vì đồng bạc giống nhau, tờ giấy bạc giống nhau, không biết đồng nào, tờ giấy nào là của người nào cho! Có kẻ đem lễ để được các quan thương, không có thì các quan ghét. Nếu các quan tuỳ theo lễ nhiều ít mà rủ lòng thương ghét thì hẹp lượng lắm; nếu nhân có lễ vật mà đổi cái lương tâm thì cái lương tâm ấy bán rẻ quá!... Hơn nữa, chẳng có luật lệ sách kinh điển nào nói rằng dân phải lễ quan, quan nhỏ phải lễ quan lớn cả. Trái lại, nhà nước đã có luật nghiêm cấm. Trong bộ Hoàng Việt luật lệ, từ điều thứ 312-319 cấm cách tang hối; điều thứ 317 lại cấm dân trong hạt không được đem "thổ nghi lễ vật cho quan; người đem phải đòn 30 roi, người nhận phải đòn 40 roi"; Thổ nghi lễ vật thường mà còn cấm, huống chi là vật khác! Thế mà từ khi luật cấm đến bây giờ đã hơn 100 năm, mà tệ tục vẫn còn, có thêm mà không bớt, tựa hồ vật giá càng ngày càng cao, thì lễ quan cũng càng ngày càng hậu!"... "Cần phải bỏ cái tệ tục ấy đi thì nước nhà mau tiến bộ. Bởi vì các quan đã khỏi cung ứng quan trên, thì không lo bác tước (bóc lột) dân, quan lấy cái thì giờ nguyên lo nghĩ cách kiếm tiền mà lo nghĩ việc công ích cho dân, thì dân được thở hơi thở mà đi tới. Các quan đã có tư cách làm cho dân giàu nước thịnh, thì quan trường càng ngày càng vinh hiển".

Ông kết luận:
"Nói tóm lại, quan trường nước ta bây giờ đang bị công kích rất kịch liệt. Muốn trừ lại tệ thì trước phải trừ cái mối của tệ ấy. Tức là sự đi lễ các quan. Thói quen ấy tuy có đã lâu mà không hợp lễ và không hợp luật. Một bên là lợi chung cho xã hội, một bên là lợi riêng cho một bọn người trong xã hội, bên nào trọng hơn?... ý riêng tôi là như vậy, mong độc giả, chẳng luận ở trong quan trường hay là ngoài quan trường, ai muốn để hay là bỏ cái tệ tục đã kể trên, xin viết thư cho tôi biết". (Sau đó, có nhiều người hưởng ứng).

Tiếp theo, ông viết bài Bảo hộ quan trường (Nam Phong, số 27 tháng 9 năm 1919), trình bày ý kiến: muốn bảo vệ được danh giá của quan trường, thì các quan phải trừ bỏ thói xấu như ông đã trình bày trong bài Chấn chỉnh quantrường. Các quan không được phép làm điều gì trái luật pháp, không được trông chờ vào các lễ "tuế thời quy dị", coi đó là "bổng lễ tự nhiên". Các quan cũng không thể sống theo cung cách "nhất thế nhị ngân", dựa vào thế lực quyền uy của mình để vòi vĩnh tiền bạc! Và đặc biệt phải chống lại "thói xu nịnh" của người đời. Thân thế, Tiền bạc, Xu mị làm hại cho danh giá quan trường biết chừng nào! Những thứ đó đã làm ngăn trở chung sự tiến bộ của đất nước. Ông nghiêm khắc vạch trần thói xu mị:
"Xu mị là một cái thuật làm cho người trên yêu mình. Có người đương sợ không có thân thế, không có tiền bạc, mà cũng không có tài cán chi chỉ biết cách xu mị mà làm đến chức to. Có người xu mị một cách rất đê tiện, những ai biết mình là con người thì không thể làm được. Xu mị là một cái phương pháp của người thuộc về loại yếu. Xu mị chẳng những làm hại cho danh giá của quan trường, mà lại làm hại cho danh giá của tộc loại nước ta nữa".

Theo Thân Trọng Huề, để góp phần bảo vệ quyền lợi cho giới quan trường, các quan Nam triều nên lập một "Hội của quan chức" để: - cố kết tình thân ái của các bạn đồng nghiệp, - bảo hộ lợi quyền và danh dự của mỗi hội viên; - bảo vệ lợi quyền và danh dự chung của quan trường. Vì rằng: Lời nói của Hội có giá trị hơn cá nhân một ông quan. Hơn nữa, nếu Hội được thành lập thì có thể giúp cho các quan ta dẹp bớt tệ hại trong quan trường và việc giao thiệp với các quan Bảo hộ thân mật hơn. Nhưng ông cũng nhắc lại ý kiến "có chấn chỉnh quan trường, rồi mới bảo hộ quan trường được".

Vấn đề Quan giám tức nêu gương trong nghề làm quan, cũng được Thân Trọng Huề nêu lên trong việc "chấn chỉnh quan trường" như một sự phát triển tư duy, một biện pháp thực hiện theo một lô gích chặt chẽ. Ông có điểm qua các quan niệm xưa nay về "nghề quan" và kèm theo bình luận, như quan niệm: - "học cổ nhập quan" tức học đạo xưa, việc xưa để làm quan; người làm quan phải biết việc xưa mới tổ chức, điều hành việc nay được, nhưng ông thêm: "Nhưng không thể chăm học cổ mà sơ việc học kim". -"học ưu tắc sĩ" tức học giỏi thì làm quan. Như thế chưa đủ! Đó chỉ là mới học Kinh truyện đời xưa. Nay còn phải học nhiều thứ kiến thức "đông tây kim cổ" nữa, mới có thể đương nổi trách nhiệm được giao. "Phò vua giúp nước", cũng là một quan niệm trong đạo sống của thần dân, nhưng phải biết nghĩ sâu hơn ý nghĩa làm việc có ích cho nước, tức là phò vua"; và quan niệm - "Quan quyền", cho rằng đã là quan thì có quyền. Vậy sao người cảnh sát, người tuần phu không là quan mà vẫn có quyền, vấn đề là ở chỗ trách nhiệm của "chức danh"được xã hội giao phó. Ông phân biệt có hai hạng quan: chức quan được làm quyền (fonctions d’autorité) như quan hành chính, quan tư pháp và chức quan chuyên môn (fonctions de gestion) như sở lục lộ, sở dạy học, sở giây thép... Vậy "quan là những người nhà nước dùng để làm quyền hay là làm việc công". Và "cái gương của quan trường tức là cái nghĩa vụ của các quan. Cái nghĩa vụ của các quan tức là cái quyền lợi của nhà nước".

Nhà nước đòi hỏi ở các quan những tư cách gì?
- Quan cai trị phải có tiên kiến, phải biết tài định cho lanh, phải khôn khéo... (de la prévoyance, de la décision de l’habilité ...)
- Quan tòa án phải thuộc luật lệ, phải thanh liêm, phải không thiên vị... (du savoir, de l’intégrité, de l’impartialité etc...)
- Quan lục lộ phải biết phép công tác...
- Quan dạy học phải biết phép sư phạm v.v...

Tóm lại, làm quan là phải: thanh liêm, cẩn thận, cần mẫn; làm việc phải có mưu du, tài năng và thao thủ - đó là sáu đức của quan trường.
- Không thanh liêm là tham nhũng, mà tham nhũng thì như trộm cướp.
- Không cẩn thận là sơ suất.
- Không cần mẫn là lười biếng.
Làm quan là phải có cơ mưu, tài năng và thao thủ, nghĩa là phải có bản lĩnh. Bản lĩnh trọng yếu nhất là trung hiếu. Bất trung bất hiếu như là làm phản hay là giết ông bà cha mẹ, đều phải cực hình... tội riêng của các quan về mặt thao thủ nặng nhất là tội xu mị đại thần, tức "phùng nghênh để mong cho các ông đại thần tiến dụng hay là xu mị để trả ơn riêng" cho nên phải phạt nặng, theo như điều thứ 223, 273, 58 của bộ Hoàng Việt luật lệ v.v...

*
* *

Trở lại vấn đề Chấn chỉnh quan trường. Sau khi được công bố trên báo Nam Phong số 26 tháng 8 năm 1919, riêng tờ báo này đã nhận được hàng chục bài "hưởng ứng" biểu thị đồng tình với chương trình cải cách, chấn chỉnh quan trường của Thân Trọng Huề của đủ các nhân sĩ trí thức, quan lại về hưu, công chức, tư chức, giáo học, điền chủ, tiên chỉ làng xã, nghị viên ... hầu khắp cả nước. Tạp chí Nam Phong đã chọn ra 14 bài tiêu biểu đăng trong các số 26, 27, 28, 29, 30. Dưới đây, chúng tôi trích lại một số ý kiến đó:
Đặng Đình Điển, Nghị viên Bắc Kỳ ở Thái Bình:
"Tôi chức phận nhỏ mọn, trước ngày cũng được hạ thuộc quan trường, hiện đương làm đại biểu thay mặt cho dân, thấy những sự quan tham lại nhũng, chỉ trời vạch đất, mong sao cái tệ ấy chóng được tẩy trừ, ấy là hạnh phúc của dân ta mai sau vậy".

Dương Long, trưởng Bưu điện ở Phát Diệm:
"Trong các việc cải lương về phong tục ngày nay, tưởng chẳng có sự gì quan trọng và ích lợi cho bằng việc quan lớn Thân đại nhân đang chú ý đến. Ngài đang cổ võ cho đồng bang ta hiểu ý Ngài mà đồng thanh xin với Chính phủ gia ân cải lương hộ cho ta"...

Nguyễn Văn Tụng, Tiên chỉ làng Lệ Chi, Bắc Ninh:
"Tôi xin theo ý và thay mặt tất cả lão thiếu, kể có mấy trăm con người sau khi nghe đọc bài báo của quan Thượng Thân tại đình làng mà nhiệt thành công nhận rằng: việc tang hối ấy nên tức khắc bỏ đi là phải, nếu không thì hơn 20 triệu con Tiên cháu Rồng cùng phải coi như con nhà "ăn cướp" cả. Vì các quan phần nhiều là "dân chi phụ mẫu", quan phụ mẫu bị công kích là "ăn cướp", thì dân tài nào tránh khỏi là con nhà "ăn cướp" được. Nếu không cải lương ngay đi, thì tiền bạc càng ngày càng đầy túi quan, mà dân tình càng ngày càng nghèo khốn. Dân tức là gốc trong nước, dân chúng bần hàn thì Nhà nước lấy đâu mà cường thịnh?".

Đặng Xuân Phương, cựu học trò, sống ở làng quê:
"Tôi thiết tưởng quan có thanh thì dân mới yên, dân có yên thì nước mới trị, nếu quan tham lại nhũng, thì dân phải cùng túng sinh ra trộm cướp. Làm quan mà không biết dạy dân nghề nghiệp, ruộng nương sinh nhai, mà cứ khu khu chực khoét tiền của dân, thế thì quan dẫu không phải là quân trộm cướp, mà cái gốc trộm cướp từ các quan vậy...".

Phạm Văn Thụ, Tổng đốc lĩnh Tuần phủ Thái Bình:
"Ngày nay là ngày nên mở mang trí khôn cho dân, lại nên giữ gìn quyền lợi cho dân, chớ không nên mong dân ngu mãi, mà lợi dụng nghề riêng của mình. Nghề riêng ấy là gì? Tân thư Tàu gọi là nghề hà bao, tức cửa miệng ta gọi là nghề "đút túi" vậy. Lạ thay! nghề ấy ai dạy mà sành; tạo hóa không có, học ai mà tinh? Phép ngày càng nghiêm, tệ ngày càng sinh; lương tăng không bớt, luật mới không kinh; trước còn tư túi, sau đến công hành; lấy bệnh truyền nhiễm, quen thói đua tranh. Than ôi! Mọt gặm cứt sắt, bọ bỏ nồi canh; nói ra thẹn mặt, nghĩ đến giật mình! Biết cùng ai chỉnh đốn quan trường, chiêu hồn liêm sỉ; nghe có lệnh tẩy trừ lại tệ của quan Thượng, thuật tạo phúc văn minh!"...

N. T. người đọc báo ở Trung Kỳ:
"Quan lớn cũng là một người đương cục, lại có quyền thế đời nay, mà quan lớn nghĩ đến cái sự chấn chỉnh ấy, há chẳng phải là một điều hạnh phúc cho chỗ quan trường lắm thay! Than ôi! Bài Chấn chỉnh quan trường đời nay, có phải là bài Biện gian luận hay là bài Trảm nịnh sớ ngày xưa không? Làm sao mà lời lẽ hùng hồn, ý nghĩa sâu xa, khiến cho những kẻ đương đồ ví như người không bị đánh mà đau vậy! Thôi, xin quan lớn gắng công lên, gắng công mà xin với Chính phủ chong chóng bỏ cái tệ tục ấy đi, sớm được ngày nào hay ngày ấy, may cho bọn hậu tiến, cho bọn xã dân ngày ấy. Cái hậu vận của quan trường nước ta, quan hệ vào cái tay tế độ của quan lớn lắm đó. Xin quan lớn gắng công...".
V.v...

Còn nhiều, nhiều lắm những ý kiến hồi âm, hưởng ứng chương trình chấn chỉnh quan trường của Thân Trọng Huề. Như là một làn sóng ập đến như muốn đè bẹp, phá tan tệ hại quan trường nhũng lạm, đục khoét nhân dân, làm mục ruỗng thêm chế độ phong kiến thối nát lúc bấy giờ. Không phải chỉ có ý kiến của những người, những giới chức phản đối tệ hại hối lộ, đút lót quan trường, mà ngay trong dân gian, nhân đó cũng có những vần thơ ca hưởng ứng, xin được trích thêm một đoạn:
"Năm Kỷ Mùi mùa thu tháng Tám,
Đêm hôm rằm xem quyển Nam Phong,
Xem qua tôi cũng bằng lòng,
Cảm ơn quan lớn có lòng thương dân.
Đường đường một đấng văn thần,
Kim tiền bất ái, ái dân làm đầu.
Dân tình lại tệ xưa sau,
Muốn trừ cái tệ từ lâu đến giờ.
Công liêm dân được nương nhờ,
Rộng cho ai nói đưa thư đến nhà.
Gửi thư tôi sẽ nói qua,
Trường quan nghe thấy ắt là biết hay.
Ăn tiền cái hại ghê thay!
Kẻ gian khỏi tội người ngay mắc vào!
Tiền thời chẳng cứ việc nào,
Dù lớn dù bé tiền vào cũng xong.
Đến như những kẻ thị hùng,
Giết người không tội bởi chưng vì tiền.
Ngán thay chỉ vị đồng tiền,
Mạng người bỏ thối cửa quyền không thương!
Có người giết kẻ thiện lương,
Tranh quyền cướp lợi tội đương gia hình.
Thế mà cũng vị gia huynh,
Thoát vòng tội lệ, oan tình hay không?
Bỉ cho một cái hơi đồng!
Làm cho thiên hạ đen lòng khó trông!..."
(7).

*
* *

Trở lên trên là những điều chúng tôi mới sơ bộ tìm hiểu về quan đại thần Thân Trọng Huề, cũng là bậc thức giả ở cái thời "tân cựu giao duyên". Ông là người vừa có kiến thức Nho học vừa có kiến thức Tây học phục vụ Nam triều và Bảo hộ ở vào giai đoạn lịch sử nước nhà suy vong, xã hội rối ren, kỉ cương điên đảo. Là một thượng quan, tuy đã phải chấp nhận chế độ Bảo hộ (thậm chí đã tự nhận là trót lỡ chịu ơn người Pháp) và quyền vua đã mất (vua chỉ còn là hư vị)... nhưng ông đã tỏ ra có tấm lòng ưu ái, có trách nhiệm trước dân nước, phải bảo vệ truyền thống trung hiếu tốt đẹp của cha ông, tổ tiên... mà dám "dấn thân", dũng cảm đưa ra những kế sách canh tân đất nước (dù có muộn màng). Cuộc đời làm quan của ông, nhân cách cao đẹp và tư tưởng lành mạnh của ông rất đáng được lịch sử ghi nhận. Những tư tưởng canh tân của ông dù chưa được thực hiện, nhưng cũng đã góp phần làm phong phú thêm xu hướng cải cách đất nước của lịch sử tư tưởng nước ta giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Ông xứng đáng là một nhân vật lịch sử, cuộc đời và sự nghiệp của ông có để lại một dấu ấn lịch sử và ông cũng xứng đáng được công nhận là một "nhà văn hóa của Việt Nam đầu thế kỷ XX".
Viết bài này, chúng tôi coi như một nén tâm hương tưởng nhớ nhân ngày giỗ lần thứ 80 của ông.

Hà Nội, tháng 9/2004.
Chương Thâu*

--------------------------------------------------------------------
* GS.Tp Hà Nội
[1] Trích Gia phả họ Thân. GS Thân Trọng Ninh cung cấp.
[2] Trích Gia phả họ Thân. GS Thân Trọng Ninh cung cấp.
[3] Bài Con đường tiến bộ của nước ta. Tạp chí Nam Phong số 7, 8 - 1918.
[4] Trích ở Phụ lục Gia phả họ Thân
[5] Trích ở Phụ lục Gia phả họ Thân
[6] Trích ở Phụ lục Gia phả họ Thân
[7] Trích Tạp chí Nam Phong số 28 - 1925.

Quay lại Trang chủ In ấn
» Thân Văn Nhiếp - nhà quân sự lỗi lạc vị quan cương trực, thương dân (10-06-2010)
» Bia Tiến sĩ Thân Nhân Trung (08-10-2010)
» "Hiền tài là nguyên khí quốc gia" - Thân Nhân Trung (06-24-2010)
» Thân Công Tài với Xứ Lạng, Xứ Lạng với Thân Công Tài (06-21-2010)
» Phó bảng Thân Trọng Ngật (06-21-2010)
» Tiến sĩ Thân Trọng Tiết (06-21-2010)
» Thân Cảnh Phúc trong kháng chiến chống Tống (06-21-2010)
» Thân Cảnh Phúc - Một vị tướng tài (06-19-2010)
» Thân Trọng Phước và gia đình những gương mặt tri thức Huế (06-15-2010)
» Thân Đức Nam – Doanh nhân văn hoá (06-15-2010)
 
Thông báo nội bộ
CHƯƠNG TRÌNH KỶ NIỆM "1000 NĂM HỌ THÂN" TẠI BẮC GIANG
Nhân ngày giỗ tổ họ Thân hằng năm (29/10 â.l.), năm nay, 2010, tại Bắc Giang, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Giang, phối hợp UBND huyện Lục Ngạn và Hội đồng Thân tộc Việt Nam đứng ra tổ chức Lễ kỷ niệm “1000 năm họ Thân” tại tỉnh nhà. ... chi tiết
Thông báo số 3 (Tin mới)
Kỷ niệm “1000 năm họ Thân” tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội ... chi tiết
Lễ kỷ niệm
Kỷ niệm “1000 năm họ Thân” tại Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội ... chi tiết
Lễ kỷ niệm “1000 năm họ Thân”
... chi tiết
Hội đồng Thân tộc Hà Nội - 2010
... chi tiết
Liên hệ
Đóng góp / Phản hồi
Hội thảo dòng họ Thân
Hoạt động của dòng họ
Họ Thân với đất nước
Thông báo
Tổng truy cập: 350764
Đang xem: 1
 
 
 
 
 
 
 

© 2004 Họ Thân Việt Nam
Chủ nhiệm: Ông Thân Thêm
Điện thoại: +84 913425131 | Email: thanthem@gmail.com | thanthem@hothan.org
Website: www.hothan.org                                                                    Click vào đây để Quản trị nội dung (CMS)