Thân Công Tài với Xứ Lạng, Xứ Lạng với Thân Công Tài
1. Lạng Sơn - điều kiện địa lý tự nhiên: Lạng Sơn là tỉnh miền núi đông bắc Việt Nam, nằm ở vị trí 1060 - 107020’ kinh đông, 210 30’ - 210 20’ vĩ bắc, có biên giới dài 253km, giáp với tỉnh Quảng Tây (Trung Hoa); trong nội địa, Lạng Sơn giáp với các tỉnh Cao Bằng, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Bắc Giang và Quảng Ninh.

Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 8.187, 25km2 , trong đó 80 % là đồi, rừng, núi, nằm trong hệ sơn khối này gồm Bắc Sơn, Bình Gia, Văn Quan, Chi Lăng, Hữu Lũng với 1500km2; đây cũng là khu vực có nhiều di tích khảo cổ học và hang động nổi bật nhất Việt Nam, còn lại là các huyện và thành phố, chủ yếu là địa hình núi đất, xen kẽ là các thung lũng nhỏ hẹp.


Nơi thờ Ngài, đền Tả Phủ, TP Lạng Sơn


2. Lạng Sơn - điều kiện tự nhiên xã hội & nhân văn

Lạng Sơn là vùng đất được nhô ra biển toàn bộ miền dứt khoát vào giữa kỷ Pecmi từ 230 - 195 triệu năm cách ngày nay và cũng là một trong những cái nôi của loài người ở Việt Nam và Đông Nam Á, có nguồn gốc và xuất hiện tại Thẩm Khuyên, Thẩm Hai (huyện Bình Gia), có niên đại 475.000 năm.
Dân số Lạng Sơn theo thống kê năm 1999 là 704.643 người, mật độ 86 người/km2, thành phần dân tộc gồm Tày, Nùng, Kinh, Dao, H’Mông, Sán Chỉ, Cao Lan, trong đó Tày 43,96%, Nùng 35,9%, Kinh 15,3%, còn lại là các dân tộc khác.

Về mặt hành chính, ngày nay Lạng Sơn bao gồm thành phố tỉnh lỵ Lạng Sơn và 10 huyện (Cao Lộc, Lộc Bình, Đình Lập, Chi Lăng, Hữu Lũng, Bắc Sơn, Bình Gia, Văn Quan, Văn Lãng, Tàng Định), có 226 xã, phường, thị trấn.
Lạng Sơn là vùng đất có vị trí chiến lược về chính trị, quân sự, ngoại giao suốt lịch sử hàng ngàn năm. Theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi, “Lạng Sơn xưa là bộ lục hải” (Lục hải là một trong mười lăm bộ thời các vua Hùng). Trong Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú xác định “Lạng Sơn đời cổ là đất Lạc Long, Tần là thuộc quận Nam Hải, Hán là thuộc quận Giao Chỉ, đường đời là giao chiến“. Đến năm Minh Mạng thứ 12 (1931), các địa danh, địa giới thay đổi, trấn Lạng Sơn được chính thức đổi thành tỉnh Lạng Sơn cho đến ngày hôm nay.

Lạng Sơn trong tiến trình lịch sử lâu dài, có vị trí địa lý đặc biệt mà thiên nhiên ban tặng cho xứ Lạng những cảnh sơn thủy hữu tình, núi non hùng vĩ, nơi có nhiều di tích nổi tiếng như Chùa Tiên, động Nhị - Tam Thanh, sông Kỳ Cùng, Hòn Vọng Phu - Lạng Sơn còn là một trong những cái nôi của loài người với việc phát hiện những di tích cổ sinh học, khảo cổ học thời tiền sử, sơ sử như Thẩm Khuyên, Thẩm Hai, Kéo Lèng, cách ngày nay hàng mấy chục vạn năm, cho đến những di tích của các nền văn hóa Bắc Sơn - Mai Pha nổi tiếng sau này. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử Lạng Sơn còn có một vị trí phên dậu đặc biệt, bảo vệ cho cả một dải quê hương đất nước, Lạng Sơn đã chứng kiến nhiều sự kiện và những chiến công hiển hách của dân tộc trong sự nghiệp chống ngoại xâm qua các thời kỳ. Có thể nói, mỗi tấc đất của mỗi địa danh xứ Lạng đều là những di tích lịch sư, là niềm tự hào của dân tộc ta và cũng là nỗi khiếp sợ của quân thù.

3. Thân Công Tài với xứ Lạng - xứ Lạng với Thân Công Tài:
Thân Công Tài là một nhân vật lịch sử, có công lao to lớn với nhân dân các dân tộc xứ Lạng nói riêng và cũng là một danh nhân lịch sử văn hóa tiêu biểu của dân tộc.
Thân Công Tài (1620 - 1683) tự là Phúc Liêm, người xã Như Thiết, huyện Yên Dũng, phủ Lạng Giang, xứ Kinh Bắc (nay là thôn Như Thiết, xã Hồng Thái, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang), sinh ra trong một dòng họ khoa bảng, nhiều người đỗ đạt làm quan cho các triều vua.

Cuộc đời và sự nghiệp của Thân Công Tài gắn trọn với 5 đời vua triều Lê Trung Hưng trị vì đất nước. Đây là giai đoạn lịch sử đầy biến động, vua Lê, chúa Trịnh và các thế lực phong kiến tranh giành quyền lực quyết liệt làm cho tình hình đất nước rối ren bởi các cuộc binh đao, đời sống nhân dân hết sức cơ cực bần hàn. Lợi dụng tình thế ấy, nhiều nơi giặc cướp nổi lên, làm cho tình hình đất nước càng thêm tiêu điều.

Làm quan trong bối cảnh ấy, Thân Công Tài đã đem tài năng và trí lực phục vụ cho nhân dân và đất nước. Năm 1667, lúc 48 tuổi, ông được giao giữ chức Cai Quản, kiêm Trị Thị Nội Thư, được phong tước Hán Quận công. Đầu năm 1672, lại được thăng làm Đô Đốc đạo Kinh Bắc (bao gồm 3 xứ: Kinh Bắc, Thái Nguyên, Lạng Sơn), cai quản mọi lĩnh vực ở vùng đất rộng lớn phía đông bắc Tổ quốc. Cũng thời gian đó, ông còn được đặc trách kiêm giữ chức trấn thủ Lạng Sơn. Sau khi mất, ông được triều đình gia tặng Đô Đốc Đồng Tri.

Thời làm quan, Hán Quận công giữ mình thanh liêm, dốc sức làm việc dân, việc nước, nổi bật là giai đoạn mang trọng trách trấn giữ biên ải phía đông bắc. Với tài thao lược, lại giỏi bang giao, ông đã giữ được tình hình biên giới ổn định, đồng thời củng cố tình giao hảo với bên ngoài, tạo dựng sự đoàn kết giữa các cộng đồng dân tộc thiểu số vùng biên.

Ngoài việc giữ gìn an ninh biên giới, Hán Quân Công còn để tâm mở mang đường sá, chợ búa, giúp dân làm ăn sinh sống dễ chịu hơn. Ông đề xướng và cho khởi công xây dựng khu đất ven bờ sông Kỳ Cùng thành 7 con đường, rồi lập thành 7 phố phường cho cư dân hai nước Việt - Trung giao lưu buôn bán. Đồng thời, ông đã cùng Vũ Quận công Vi Đức Thắng mở ra phố chợ Kỳ Lừa, nhanh chóng phát triển khu vực này trở thành một trung tâm buôn bán phồn thịnh, giúp cho dân chúng trao đổi hàng hóa, thông thương xuôi ngược và qua lại biên giới. Nhờ đó mà một vùng đồi gò hoang vu, rậm rạp, cư dân thưa thớt ở phía bắc Đoàn thành đã sớm trở thành một điểm quần cư đa dân tộc, một cửa ngõ buôn bán sầm uất, thu hút nhiều Hoa thương đến kinh doanh. Việc Thân Công Tài mở mang, thành lập phố phường, xây dựng cuộc sống thị dân, giao lưu buôn bán, xây dựng Lạng Sơn trở thành vùng đất trù phú, đã tỏ rõ ông là một người sớm có tầm nhìn chiến lược theo khuynh hướng đô thị hóa.

Ở cương vị một người cai quản dân nơi biên viễn hoang vu đương thời, so với nhiều vị trấn thủ các nơi khác, cống hiến của Thân Công Tài thật đáng ghi nhận. Ông là người đã đặt những viên đá đầu tiên cho nền kinh tế thương mại của Lạng Sơn và sau này không ngừng được tái sinh và phát triển, ông cũng là người góp một tiếng nói khá sớm và mới mẻ cho nền kinh tế thương nghiệp đang hình thành của nước ta trong những thế kỷ trước. Công lao của Thân Công Tài được dân chúng, bao gồm dân 7 phường chợ ở Đoàn Thành cùng với 13 phường bên Trung Quốc rất biết ơn, nên khi ông mất, họ đã lập đền thờ ông, gọi là đền Tả Phủ.
Ngôi đền này có tên chữ là Tả Phủ Linh Từ (ngôi đền thiêng thờ Tả Đô Đốc Hán Quận công), tọa lạc ở trung tâm phố chợ Kỳ Lừa, nay thuộc phường Hoàng Thụ, thành phố Lạng Sơn. Theo bi ký thì đền này được nhân dân 7 phường của Lạng Sơn và khách buôn 13 tỉnh Trung Quốc xây dựng vào năm 1683. Sách Đại nam nhất thống chí, phần ghi chép về đền miếu, di tích Lạng Sơn, có nói về đền Tả Phủ như sau:
“Ở phố Kỳ Lừa, châu Thoát Lãng, tương truyền là Trấn quan đời Lê là Thân Nhân Trung, chức Đô Đốc Phủ, tước Hán Quận công cai trị dân có chính tích tốt, mở ra phố nông, sau người ta nhớ ơn đức, lập đền để thờ”.

Xét nội dung ghi chép trên, chúng ta thấy về di tích thì có nhân vật được thờ là Thân Nhân Trung, vị tiến sĩ thế kỷ XV (năm Quang Thuận thứ 10 đời Lê Thánh Tông), người có câu nói nổi tiếng “hiền tài là nguyên khí của quốc gia...”, có lẽ bị nhầm. Theo gia phả dòng họ Thân thì ông Thân Công Tài chính là hậu duệ của tiền sĩ Thân Nhân Trung, một dòng họ nổi tiếng đương thời, có nhiều người đỗ đạt, làm quan trãi nhiều triều, có nhiều công lao với đất nước.

Ngôi đền Tả Phủ quay về hướng Tây, nằm trên thế đất cao tạo nên vẻ uy nghi linh thiêng. Kiến trúc của đền gồm hai tòa kết cấu theo lối chữ công (I). Hiện nay, chỉ có tòa ngoài là còn giữ được tương đối nguyên vẹn, còn tòa bên trong lại đổ nát, đã được sửa lại theo lối mới, lợp ngói tây.
Nhìn chung, tòa ngoài được kết cấu theo kiểu ống muống đơn giản, các kết cấu gỗ, kể cả bộ vì kèo đều mang đặc điểm kiến trúc của người Hoa.

Kiến trúc tòa trong thể hiện tương tự như tòa ngoài. Nối liền giữa hai tòa là tường vây có trổ hai cổng nhỏ đi xuyên vào trục chính đạo. Khoảng giữa của hai tòa là một khoảng sân nhỏ, trước đây có bể nước lộ thiên với hòn non bộ được gọi là “Thiên tích”, hai bên có trồng hai cây đại (nay không còn). Có một điểm khác với tòa ngoài là tòa trong còn giữ được hai cửa sổ vuông ở mặt ngoài thông ra sân giữa với các gióng gỗ tiện tròn (đây là nơi để các đầu pháo trong những ngày hội).

Nền nhà trước kia là nền đất, nay đã lát bằng gạch chỉ. Các hiện vật, đồ thờ tự liên quan đến di tích cũ tồn tại đến nay cũng không nhiều, mà chủ yếu là do nhân dân địa phương mới công đức vào. Đáng chú ý có bức đại tự cổ treo ở tòa tiền tế “Hoài đức hàm ninh” (nhớ ơn đức của ngài, phù giúp cho dân yên ổn). Tấm bia đá tạo dựng năm Quý Hợi, niên hiệu Chính Hòa thứ tư (1683), có tiêu đề: Tôn sư phụ bi (bia ghi việc tôn thờ người làm thầy, làm cha), mặt bên ghi dòng chữ Lưỡng Quốc Khánh Nhân, nội dung ghi việc nhân dân hai nước ghi tạc công lao của Thân Công Tài với Lạng Sơn, và việc mở mang thương trường buôn bán ở đây.

Bia đá nay được đặt trong nhà bia phía trong đền Tả Phủ, tấm bia được tạo tác hình tứ diện, cao 2,1m. Đế bia có 2 tầng: Tầng trên có kích thước 2,97 x 0,97m được chạm khắc kiểu sập ngụ chân quì, đỡ thân bia. Tầng dưới kích thước 1,3 x 1,3m, chạm khắc hình các cánh sen, chàng ba lớp chạy xung quanh.
Thân bia: Hình trụ vuông, phía trên thu nhỏ, các cạnh góc được soi chữ và vuốt tròn tạo dáng mềm mại.
Trán bia: Mặt chính chạm khắc nổi hình mây lửa và lưỡng long chầu nguyệt (với các đặc trưng cơ bản của rường thời Lê), diềm bia không trang trí mà chỉ soi các đường viền bo phần mặt có ghi nội dung bia.
Chân bia: Được chạm khắc các đề tài chuyện Tây Du Ký, như thầy trò Đường Tăng đi Tây Trúc thỉnh kinh, Ngộ Không hàng phục bạch tượng, cảnh núi rừng, cây cối, chim... rất sinh động đẹp mắt.
Đỉnh bia được thu lại dần lên phía trên: có một bông sen cách điệu hai tầng sen ôm lấy đỉnh chóp, ở 4 góc được soi chỉ vuông hai cạnh chạy dài xuống trán bia.
Có thể nói đây là một bia đá được tạo tác cân đối, đẹp về hình thức mỹ thuật và sáng sủa, rõ ràng về nội dung, ngoài sử liệu về di tích và nhân vật được thờ cúng ở di tích.

Lòng ngưỡng mộ và biết ơn Thân Công Tài của nhân dân Lạng Sơn không chỉ dừng ở việc lập đền, tạo dựng văn bia thờ cúng Ông ở di tích đền Tả Phủ, mà nó còn thể hiện đậm nét ở lễ hội truyền thống được tổ chức hàng năm ở di tích, qua các nghi lễ thờ cúng, hội hè, tập tục mang đậm nét văn hóa truyền thống của nhân dân các dân tộc Lạng Sơn với người có công với quê hương đất nước.

Lễ hội đền Tả Phủ gắn liền với lễ hội đền Kỳ Cùng (thành phố Lạng Sơn), kéo dài từ 22 đến 27 tháng giêng (âm lịch) - với đầy đủ các nghi thức diễn ra như trong những hội hè khác ở các làng quê Việt Nam. Phần lễ của đền Tả Phủ tập trung chủ yếu vào hai ngày 25 và 27, đó là lễ tế khai hội và lễ tế tạ. Phần hội bao gồm những nghi thức rước kiệu, các trò chơi cờ, kéo co, hát sli, lượn, quan họ, tục cướp đầu pháo... diễn ra trong những ngày hội với sự tham gia đông đảo của nhân dân các dân tộc Lạng Sơn và du khách, tạo nên không khí đông vui náo nhiệt. Không khí lễ hội những ngày này không chỉ diễn ra ở phạm vi hai đền Tả Phủ, Kỳ Cùng mà người ta có cảm tưởng đây là lễ hội của cả thành phố Lạng Sơn.

Theo thông lệ, công việc chính tiến hành vào hôm 22 tháng giêng gồm khai mạc lễ hội, tế khai hội, chuẩn bị cho nghi thức rước kiệu từ đền Tả Phủ đến đền Kỳ Cùng (một đền thờ có liên quan trong lễ hội vị thần sông Kỳ Cùng). Theo truyền thuyết, vị thần sông Kỳ Cùng được thờ ở đầu sông Kỳ Cùng là quan lớn Tuần Tranh, vốn là một tướng thời nhà Trần được cử lên Lạng Sơn đánh giặc, do chưa quen thủy thổ nên quân lính của ông bị bệnh tật và ốm đau. Lúc lâm trận chống giặc bị thương vong gần hết, sợ quay về triều đình sẽ phạm trọng tội, bước đường cùng, ông đã nhảy xuống sông tự vẫn. Có người không biết lại nói rằng ông dính dáng vào chuyện trai gái.

Đến khi ông Thân Công Tài lên nhậm chức ở Lạng Sơn, biết chuyện này, ông đã dò hỏi ngọn nguồn và minh oan cho ông Tuần Tranh. Trong tâm thức của mình, nhân dân cảm phục lòng nghĩa hiệp của ông Thân Công Tài nên mở đền lễ hội hàng năm vào ngày 22 tháng giêng, đều tổ chức rước kiệu Tuần Tranh lên làm lễ tạ ơn ông Tả Phủ. Quan lớn Tuần Tranh trong tín ngưỡng Mẫu là một vị thánh thuộc hàng quan lớn (quan lớn Đệ ngũ), có vị thế dưới các Mẫu (hệ thống sáng tạo). Như vậy, là trong tâm thức nhân dân, ông Thân Công Tài không những có công với người đời mà còn có công với cả các vị thần thánh trong tin ngưỡng dân gian.

Lễ hội đền Tả Phủ chính thức khai mạc vào buổi sáng (giờ Thìn) trước cửa sân đền, mọi người cùng nhau ôn lại truyền thống lễ hội văn hóa đặc sắc của di tích trong tâm thức người dân xứ Lạng xưa và nay. Sau đó theo sự hướng dẫn của ban tổ chức, mọi người vào đền dâng hương cầu mong cuộc sống ấm no, thịnh vượng và có một năm mới đầy may mắn. Sau khi ban tế của đền hoàn tất việc khai hội, đoàn kiệu của đền Tả Phủ sẽ khởi hành xuống đền Kỳ Cùng, thỉnh bát hương của quan lớn Tuần Tranh lên chơi với ông Thân Công Tài. Đoàn rước kiệu gồm: kiệu long đình, kiệu bát cứng, đội sư tử, đội tế các đền, đội bát âm đi theo cử nhạc cùng đông đảo nhân dân. Thông thường trong ngày hội này, ban tổ chức còn mời cả đoàn thân tộc từ quê hương Thân Công Tài ở Bắc Giang lên dự lễ hội, được trân trọng mời đi trước đoàn rước (ngay sát kiệu thờ). Theo tục lệ xưa, chu trình rước kiệu phải đi qua đủ 7 miếu thờ thổ công của khu vực phố chợ Kỳ Lừa (đó là các miếu: Giếng Vuông, Bắc Đế, Pò Càng, Đông Cai, Gốc Đa, Hội quán, Tổng). Đám rước trang hoàng lộng lẫy có cờ quạt võng, lọng, đàn sáo vang lừng, có một tốp trai tráng y phục chỉnh tề khênh kiệu bát cống (gọi là đồng nam), và một tốp thiếu niên vận đồng phục (gọi là đồng tử) khiêng đỉnh hương Tuần, được sư tử Kỳ Lừa râu bạc hộ tống múa một vòng quanh phố chợ rồi thẳng xuống đền Kỳ Cùng đón rước thần sông về dự hội. Sau khi làm lễ, đúng giờ Ngọ, đoàn rước kiệu rời đền Kỳ Cùng quay vè đền Tả Phủ. Trên quãng đường đoàn kiệu rước qua, dân hàng phố bày biện lễ vật, vàng hương cầu may và đốt pháo chào mừng rất náo nhiệt.

Vào ngày 25, 26 tại đền Tả Phủ có tổ chức trò cướp đầu pháo (đây là trò lễ mang tính chất cầu phúc, cầu tài). Nhân dân truyền tụng rằng: Vào thời kỳ trị nhậm của Thân Công Tài, có năm giặc cướp nổi lên cướp bóc dân lành, ông đã huy động lực lượng quân lính và nhân dân địa phương phá tan giặc. Sau trận đó, ông cho nhân dân trong vùng mở hội mừng thắng lợi vào dịp đầu xuân mới. Người ta cho rằng “Hội đầu pháo” có lẽ bắt nguồn từ đó. “Đầu pháo” là một vòng kim loại cuốn vải đỏ, bên trong được gắn với một quả pháo lớn (pháo đùng), rồi nối vào dây pháo tép, cuốn thành nhiều vòng dựng trên chòi cao trước cửa đền. Có thể nói, đây là đỉnh điểm của lễ hội, lôi cuốn người tham dự trò chơi dân gian mỗi năm chỉ có một lần với tâm trạng háo hức xen lẫn hồi hộp - khi trò chơi bắt đầu, quyền châm lửa đốt pháo sẽ thuộc về người năm trước đoạt giải. Khi đốt, những dây pháo tép lần lượt nổ, rồi dây phút quyết định sẽ đến khi quả pháp đại nổ hất tung vòng thép đỏ lên không trung, rơi xuống và mọi người xông vào tranh cướp.

Cướp pháo phải là những người có sức khỏe và nhanh nhẹn, thường là đàn ông, thanh niên. Người xem ở vòng ngoài reo hò cổ vũ những người tham gia cuộc chơi, làm sôi động cả không gian lễ hội. Những ai cướp được vòng thép đỏ thì khéo léo thoát ra khỏi sự truy cản của đối phương, chạy nhanh về sân trình Ban tổ chức để lĩnh giải thưởng của hội. Có tất cả 10 đầu pháo xép theo thứ tự 1- 2- 3- 4- 5- 6- 7- 8- 9- 10, ở đây người ta kỵ con số 7 nên thay vào đó là hai đầu mang số 8. Mỗi đầu pháo tượng trưng cho một vị thần thánh, cụ thể hóa bằng các bức tranh lồng trong khung kính vẽ phong cảnh hoặc theo chủ đề Phúc - Lộc - Thọ. Theo tục lệ, ngày 15 đốt 25 quả và ngày 26 đốt số còn lại. Người ta quan niệm rằng, ai cướp được đầu pháo, rước khung kính về thờ thì cả năm ấy gặp nhiều may mắn, gia đình bình an, khỏe mạnh, làm ăn buôn bán phát đạt, thịnh vượng.

Trong lễ trao giải thưởng, Ban tổ chức chúc mừng và trao đầu pháo kèm theo một số tiền đủ mua hương đốt thờ cúng quanh năm. Sau đó, đầu pháo được đoàn sư tử hộ tống đưa rước về tận nhà. Gia chủ nếu có điều kiện sẽ tổ chức một bữa cơm thân mật khoản đãi họ hàng, bạn bè đến chung vui. Đến kỳ hội năm sau, họ lại sửa lễ tạ và đem đầu pháo trả lại cho Ban tổ chức. Cứ như vậy luân chuyển từ năm này sang năm khác. Ngày 27 tháng giêng là ngày kết thúc lễ hội Tả Phủ - Kỳ Cùng, đồng thời cũng là ngày chợ phiên Kỳ Lừa. Chương trình quan trọng nhất trong ngày kết thúc lễ hội ở đền Kỳ Cùng là việc tổ chức đoàn kiệu rước từ đền Tả Phủ, hồi bát hương quan lớn Tuần về đền Kỳ Cùng, sau đó làm lễ tạ (yên vị) kết thúc lễ hội. Có thể nói đây là ngày quan trọng thứ hai của lễ hội Tả Phủ - Kỳ Cùng với nhiều nghi lễ trọng thể, phải tổ chức.

Đám rước đi theo lộ trình như đám rước của đền Kỳ Cùng đi tiễn bát hương hôm 22 tháng giêng. Buổi chiều, Ban tế lễ tổ chức lễ tế tạ để kết thúc lễ hội.
Ngày nay, lễ hội đang từng bước được khôi phục và bảo tồn nhiều nét của lễ hội cổ truyền, đặc biệt là phần lễ. Dù hình thức lễ hội ngày nay ít nhiều thay đổi, nhưng tinh thần lễ hội vẫn mãi trường tồn trong lòng người xứ Lạng. Lễ hội truyền thống đền Tả Phủ diễn ra hàng năm đã trở thành một sinh hoạt quan trọng, ăn sâu vào tâm thức của nhân dân. Cùng với các di tích lễ hội khác của xứ Lạng, di tích lễ hội đền Tả Phủ với việc tôn vinh các danh nhân văn hóa, anh hùng dân tộc đã góp phần làm tăng thêm nét đẹp, sức hấp dẫn của một vùng đất đã đi vào thơ ca, khiến ai đó một lần đến không muốn về:

“Ai lên xứ Lạng cùng anh
Bõ công bác, mẹ sinh thành ra em
Tay cầm bầu rượu nắm nem
Mải vui quen hết lời em dặn dò...”.


Đền Tả Phủ thờ Hán Quận Công Thân Công Tài là một di tích lịch sử văn hóa đã tồn tại trên xứ Lạng trong lịch sử mấy trăm năm qua, đã chứng kiến bao đổi thay ở một trung tâm kinh tế, chính trị văn hóa của một tỉnh miền núi phía bắc Tổ quốc. Di tích cũng đã trải qua bao thăng trầm lịch sử, đã từng bị hư hại nhiều lần nhưng với ý thức bảo tồn di sản văn hóa truyền thống, ý thức “Uống nước nhớ nguồn”, lòng thành kính với Thân Công Tài của nhân dân trong vùng, đền vẫn tồn tại và phát triển đến ngày nay. Với những giá trị văn hóa đặc sắc về cảnh quan, kiến trúc, lễ hội, tâm linh tín ngưỡng, di tích đền Tả Phủ có một vị thế quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân xứ Lạng.

Lễ hội truyền thống đền Tả Phủ là ngày hội văn hóa của nhân dân các dân tộc Lạng Sơn, là dịp để những nét văn hóa đặc sắc xứ Lạng như các nghi lễ tế, cầu cúng, rước kiệu, các trò chơi dân gian như đánh cờ, múa sư tử, hát giao duyên, sli, lượn, quan họ ... được bộc lộ. Đến với lễ hội Tả Phủ, mỗi người dân đều có thể biểu hiện lòng thành kính của mình với các vị thần, thánh trong tín ngưỡng dân tộc và Đức ông Tả Phủ Hán Quận công Thân Công Tài - người có công mở mang thương trường, tạo dựng nên phố phường đông vui của Lạng Sơn từ thế kỷ XVII. Thông qua đó, bày tỏ những ước vọng của mình về cuộc sống ấm no hạnh phúc, đất nước thanh bình. Di tích lễ hội đền Tả Phủ còn là dịp để thể hiện tinh thần đoàn kết của nhân dân các dân tộc xứ Lạng nơi biên ải của Tổ quốc bao đời nay.

Có thể nói trong bối cảnh lịch sử đương thời đầy biến động, Lạng Sơn cũng trải qua bao thăng trầm lịch sử loạn lạc, thiếu đói, bên kia biên giới cũng không hề yên ổn, nhưng bằng trí tuệ và tài năng của mình, Thân Công Tài đã từng bước thu phục nhân dân, nâng cao đoàn kết, trấn áp loạn lạc cướp bóc và bảo vệ an ninh toàn lãnh thổ quốc gia, ông đã đề ra những chính sách tiến bộ, điều hành việc khuyến nông, khuyến khích giao thông hàng hóa và chấn chỉnh quân triều. Chỉ một thời gian ngắn, ông đã lập lại kỷ cương, nâng cao sức mạnh, phát triển kinh tế thương mại, sản xuất ở Lạng Sơn. Công lao này thật to lớn, vai trò của ông trong tiến trình lịch sử phát triển Lạng Sơn đặc biệt quan trọng mà không không một vị quan trấn triều nào có thể sánh được. Vì lẽ đó, nhân dân Lạng Sơn và Trung Quốc lập đền tôn thờ ông, lịch sử tôn vinh ông ở vùng đất biên cương này. Cho đến nay, những thực hiện và ý tưởng của ông đã làm cho Lạng Sơn vẫn còn nguyên giá trị và góp phần phát triển kinh tế - xã hội Lạng Sơn. Phố chợ Kỳ Lừa đã trở thành trung tâm kinh tế thương mại của Lạng Sơn - Quảng Tây của Việt Nam - Trung Quốc. Phố chợ Kỳ Lừa đã trở thành một thực thể quan trọng trong đô thị Lạng Sơn, tỉnh lỵ Lạng Sơn ngày càng phát triển, nhân dân các dân tộc Lạng Sơn luôn kính trọng tài năng, đức độ, công lao lòng nhân ái của ông dành cho Lạng Sơn.

Nguyễn Văn Cường *
Vương Đắc Huy **

---------------------------------------------------------------------------
* TS. Phó Giám đốc Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Lạng Sơn
** ThS. Bảo tàng tỉnh Lạng Sơn.

Quay lại Trang chủ In ấn
» Thân Văn Nhiếp - nhà quân sự lỗi lạc vị quan cương trực, thương dân (10-06-2010)
» Bia Tiến sĩ Thân Nhân Trung (08-10-2010)
» "Hiền tài là nguyên khí quốc gia" - Thân Nhân Trung (06-24-2010)
» Phó bảng Thân Trọng Ngật (06-21-2010)
» Tiến sĩ Thân Trọng Tiết (06-21-2010)
» Thân Cảnh Phúc trong kháng chiến chống Tống (06-21-2010)
» Thân Cảnh Phúc - Một vị tướng tài (06-19-2010)
» Thân Trọng Phước và gia đình những gương mặt tri thức Huế (06-15-2010)
» Thân Trọng Huề một nhân vật lịch sử có tư tưởng canh tân, một nhà văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX (06-15-2010)
» Thân Đức Nam – Doanh nhân văn hoá (06-15-2010)
 
Thông báo nội bộ
CHƯƠNG TRÌNH KỶ NIỆM "1000 NĂM HỌ THÂN" TẠI BẮC GIANG
Nhân ngày giỗ tổ họ Thân hằng năm (29/10 â.l.), năm nay, 2010, tại Bắc Giang, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Giang, phối hợp UBND huyện Lục Ngạn và Hội đồng Thân tộc Việt Nam đứng ra tổ chức Lễ kỷ niệm “1000 năm họ Thân” tại tỉnh nhà. ... chi tiết
Thông báo số 3 (Tin mới)
Kỷ niệm “1000 năm họ Thân” tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội ... chi tiết
Lễ kỷ niệm
Kỷ niệm “1000 năm họ Thân” tại Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội ... chi tiết
Lễ kỷ niệm “1000 năm họ Thân”
... chi tiết
Hội đồng Thân tộc Hà Nội - 2010
... chi tiết
Liên hệ
Đóng góp / Phản hồi
Hội thảo dòng họ Thân
Hoạt động của dòng họ
Họ Thân với đất nước
Thông báo
Tổng truy cập: 361112
Đang xem: 2
 
 
 
 
 
 
 

© 2004 Họ Thân Việt Nam
Chủ nhiệm: Ông Thân Thêm
Điện thoại: +84 913425131 | Email: thanthem@gmail.com | thanthem@hothan.org
Website: www.hothan.org                                                                    Click vào đây để Quản trị nội dung (CMS)